Chương 1: Cộng đồng người Hoa ở thành phố Hải Phòng, Lịch sử hình thành và quá trình biến đổi. Chương 2: Hoạt động kinh tế của người Hoa ở thành phố Hải Phòng. Chương 3: Đời sống văn hóa xã hội của cộng đồng người Hoa ở thành phố Hải Phòng. Chương 4: Những biến động chính trị và quá trình hồi hương của cộng đồng người Hoa cuối thế kỷ XX 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CỘNG ĐỒNG NGƢỜI HOA Ở THÀNH PHỐ HẢI PHÕNG, LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI 1.
Khái niệm “người Hoa” Người Hoa là một trong những cộng đồng có dân di trú lớn nhất, lâu đời nhất, có tiềm lực kinh tế mạnh nhất và dân số phát triển nhanh nhất so với các cộng đồng người di trú trên thế giới. Do người Hoa có mặt ở khắp các quốc gia trên thế giới nên có nhiều cách gọi về họ. Khái niệm “người Hoa” là một khái niệm rộng, có nội hàm phức tạp bởi nó có sự thay đổi đối với từng giai đoạn lịch sử và từng mục đích sử dụng khác nhau. Ở Việt Nam có rất nhiều cách gọi liên quan tới người Hoa.
Có những cách gọi dựa theo tên các triều đại phong kiến thống trị ở Trung Hoa trong từng giai đoạn lịch sử như: người Hán, người Đường, người Tống, người Minh, người Thanh,… Cũng có thể gọi người Hoa theo các nhóm địa phương như người Quảng Đông, người Phúc Kiến, người Hải Nam, người Hẹ,… Đó là tên của một vùng đất, quê hương, nơi xuất phát điểm của từng nhóm cộng đồng người Hoa ở Trung Hoa. Cũng có một có cách gọi khác như người Tàu, Khách Trú, Hoa Kiều dùng để gọi cộng đồng này. Tại công trình nghiên cứu The Chinese diaspora: The current distribution of the overseas Chinese population của hai tác giả Dubley. Poston và Juyin Helen Wong (đại học Texas, Mỹ, 2006) đã đưa ra một khái niệm về người Hoa tương ứng với khái niệm người Hoa hải ngoại hay Hoa Kiều (Chinese overseas) như sau: là những người có huyết thống hoặc xuất phát từ Trung Hoa lục địa, Hồng Kông, Macao và Đài Loan , ra nước ngoài vì lý do kinh tế, chính trị, xuất khẩu lao động,… sinh sống ổn định ở nước ngoài nhưng không còn quốc tịch Trung Quốc, sinh sống lâu đời giữa nhiều thế hệ [54, 349].
Còn trong công trình The Encyclopedia of the Chinese Overseas (tạm dịch: Bách khoa thư về người Hoa hải ngoại) của trung tâm di sản Trung Hoa (Singapore), học giả Li Tana đã có một bài viết chuyên đề về người Hoa ở Việt Nam [65]. Bà đã đưa ra phân tích hai tên gọi người Hoa ở Việt Nam là “Chú Khách” (Uncle Guest) và “Tàu” (Tau people) đều xuất phát từ quá trình di cư, buôn bán của người Hoa tới Việt Nam bằng đường biển. Do đi lại trên biển nên phương tiện chủ yếu là tàu thuyền, chính vì vậy người Việt thường gọi là Tàu, người bên Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu,… Tuy nhiên, theo Li Tana cho rằng thuật ngữ Tàu thường mang ý nghĩa miệt thị hơn bởi nó mang cả ý nghĩa mang đến cho người Việt cơ hội (làm ăn buôn bán) và cả tai họa khi gắn với nạn cướp biển (Tàu Ô). Thuật ngữ “Khách Chú”, “Chú Khách” hay “Các Chú” xuất phát từ người Minh Hương ở vùng Nam Bộ.
Người Hoa coi nhau như là anh em nên 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thường gọi nhau là các chú trong cách xưng hô thân mật. Dần dần, người Việt bắt chước mà và đọc chệch đi thành Khách Chú. Theo tác giả Châu Hải trong công trình Các nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam (1992) khái niệm người Hoa bao gồm “tất cả những người di cư từ đất nước Trung Hoa đến các nước trong khu vực, và khái niệm đó thuộc phạm trù biến đổi chứ không phải là một phạm trù ổn định. Đó là khả năng chuyển từ khái niệm “Hoa kiều” đến khái niệm “người Hoa” và đến một thời điểm lịch sử nào đó họ không còn là Hoa nữa.
Và cùng với nó, những hình thức liên kết cộng đồng cũng biến đổi theo và mang ý nghĩa của một thực thể chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội” [13, 15]. Ý kiến này đã đặt ra hai đối tượng cần được lý giải là “người Hoa” và “Hoa kiều” rất đáng lưu ý trong phương pháp tiếp cận, nghiên cứu về cộng đồng người Hoa. Tác giả Trần Khánh trong sách Cộng đồng người Hoa, Hoa Kiều ở châu Á (2018) cho rằng hai thuật ngữ “người Hoa” và “Hoa kiều” được sử dụng bắt đầu từ nửa sau thế kỷ XIX. “Người Hoa” được chính quyền phong kiến Mãn Thanh sử dụng để chỉ những người Hoa sinh sống bên trong lãnh thổ của Trung Quốc, những người sinh sống ngoài lãnh thổ Trung Quốc là những công dân của các vương quốc khác.
Còn thuật ngữ “Hoa kiều” sử dụng chính thức trong văn bản Hiệp định ký kết giữa Pháp và chính quyền Mãn Thanh tại Thiên Tân năm 1858. Thuật ngữ này ám chỉ những chính khách của triều đình Mãn Thanh làm việc ở nước ngoài chứ không bao hàm tất cả những người Trung Hoa di trú sống tạm thời ở nước ngoài [88, 226]. Phải đến Hiệp định Hòa bình và Thương mại ký giữa Pháp và Trung Quốc tại Thiên Tân trong những năm 1885-1887, thuật ngữ Hoa kiều được sử dụng để chỉ tất cả những người Trung Hoa di trú và sống tạm thời ở nước ngoài. Trần Khánh đã đưa ra nội dung khái niệm về “người Hoa” như sau: “người Hoa là những người gốc Hán hay bị Hán hóa, sống tương đối ổn định, thường xuyên tại các quốc gia Đông Nam Á, đã nhập tịch nước sở tại, còn giữ được những nét đặc trưng nền văn hóa Trung Hoa và tự nhận mình là người Hoa.
Họ là những cộng đồng dân nhập cư có nguồn gốc Trung Hoa ít hoặc chưa bị đồng hóa, là những nhóm tộc người đang trong quá trình liên kết hóa dân tộc, một bộ phận dân tân tộc của các quốc gia Đông Nam Á, đang từng bước điều chỉnh, hội nhập vào các thể chế kinh tế - xã hội, chính trị và văn hóa của từng quốc gia – dân tộc, khu vực và quốc tế” [28, 35]. Đối với một số cộng đồng người Hoa sinh sống ở nước ngoài luôn sử dụng từ “người Hoa” thay thế từ “Hoa kiều” để gọi về cộng đồng mình. Theo ý kiến của nhiều học giả trên thế giới, họ tự gọi mình là người Hoa để tránh né những vấn đề chính trị liên quan đến Trung Quốc, luôn ý thức về dân tộc cho dù lấy vợ gả chồng với người bản địa, hoặc trở thành người Hoa lai. Cùng với thuật ngữ người Hoa, những người Hoa sinh sống ở nước ngoài có nguồn gốc lâu đời, những người Hoa lai cũng có những danh xưng tại bản địa như người Minh Hương ở Việt Nam, người 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Peranakan ở Indonesia, người Baba ở Malaysia và Singapore, người Lukin ở Thái Lan hay người Mestizo ở Philippines [30,22].
Ở Việt Nam, thuật ngữ “người Minh Hương” được triều đình nhà Nguyễn sử dụng để chia người Hoa thành hai nhóm: Minh Hương và Hoa kiều. Sự phân chia này nhằm mục đích đánh thuế chứ không có mục đích phân biệt đối xử. Minh Hương là tên gọi những người Hoa còn trung thành với nhà Minh (Trung Hoa) lánh nạn nhà Thanh, đến Việt Nam tị nạn, tuân phục triều đình Việt Nam và nhận Việt Nam là quê hương thứ hai. Họ là những người tị nạn chính trị.
Mặc dù vẫn giữ phong tục, tập quán văn hóa Trung Hoa, những người này từ lâu được xem là người Việt Nam. Đến đời Tự Đức (1847- 1883), người Minh Hương được coi là người Việt Nam toàn diện. Danh từ Minh Hương sau đó bao gồm tất cả con cái những người Hoa đến Việt Nam lập nghiệp: những người mang hai dòng máu Việt-Hoa hay những trẻ em Hoa kiều sinh ra tại Việt Nam bất kể ý muốn của cha mẹ. Trong Chỉ thị 10/CP-TW ngày 17-11-1982 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa V về “Chính sách đối với người Hoa trong giai đoạn mới”, người Hoa bao gồm những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng còn giữ được những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa… Hoa kiều là những người có cùng nguồn gốc dân tộc với người Hoa, nhưng không nhập quốc tịch Việt Nam”.
“Người Hoa” là khái niệm trung tâm của nội dung nghiên cứu trong luận văn này, khái niệm đó được dùng để chỉ những người Hoa ở Việt Nam. Từ việc tham khảo và vận dụng các định nghĩa, khái niệm người Hoa của các tác giả trong và ngoài nước, có thể tóm đưa ra nội dung khái niệm “người Hoa” một cách sơ bộ như sau: - Là những người có gốc Hán (hoặc đã bị Hán hóa), đến từ Trung Quốc di cư xuống Việt Nam; sống ổn định, thường xuyên, lâu dài hoặc trải qua nhiều thế hệ sinh sống ở Việt Nam; bao gồm cả những nhóm người Hoa vì nhiều lý do di cư, chạy loạn sang Việt Nam như yếu tố từ chiến tranh và biến động chính trị; những thương khách người Hoa thường xuyên buôn bán, trú ngụ dài ngày ở Việt Nam; những người Hoa đi biển gặp nạn, phải lên bờ và sống dài ngày ở Việt Nam,… - Được nhập tịch, được hưởng những quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ do chính quyền sở tại quy định; - Ít hoặc nhiều hoặc chưa bị đồng hóa; vẫn giữ được ngôn ngữ, phong tục tập quán nét, đặc trưng các giá trị văn hóa truyền thống Trung Hoa; - Tự ý thức, tự nhận mình là người Hoa. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đối với “Hoa kiều”, đây những người là người nước ngoài, mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài, có nguồn gốc dân tộc với người Hoa, nhưng không nhập quốc tịch Việt Nam. Là những người ngoại quốc đến Việt Nam tìm việc, phải đóng thuế cư trú, phải gia hạn thời gian cư trú; hưởng và thực hiện theo quy chế, nghĩa vụ của người nước ngoài tại Việt Nam.
Những người Hoa hay Hoa kiều ở Hải Phòng trong quá trình hình thành và phát triển đến nửa cuối thế kỷ XX bao gồm những thành phần được kể trên. Họ cư tụ lại trong những hình thức tổ chức cộng đồng, thuộc nội hàm khái niệm “người Hoa” được hiểu trong luận văn này. Một số vấn đề về lý thuyết di cư.