Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Lê Thị Trâm Anh được thực hiện tại Khoa Kế toán – Kiểm toán, Trường Đại học Thương Mại (Hà Nội, năm 2022) dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Quang Hùng và PGS.TS Phạm Thu Thuỷ, với đề tài: "Công bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thị trường chứng khoán (TTCK) đóng vai trò là kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế. Tính đến thời điểm nghiên cứu, tổng giá trị vốn huy động qua TTCK Việt Nam đạt trên 2 triệu tỷ đồng, đóng góp bình quân 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tương đương gần 60% so với nguồn cung vốn tín dụng ngân hàng. Số lượng tài khoản nhà đầu tư tăng từ khoảng 3.000 tài khoản năm 2000 lên 1,69 triệu tài khoản (tăng 580 lần), trong đó số lượng nhà đầu tư nước ngoài tăng 2,3 lần so với năm 2007, huy động khoảng 17,2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp. Trong cơ cấu thị trường, các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) chiếm tỷ trọng lớn và đa dạng về ngành nghề kinh doanh như công nghiệp, bất động sản, y tế, sản xuất.
Tuy nhiên, tính bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và nhà đầu tư vẫn tồn tại. Việc công bố thông tin (CBTT) không đầy đủ, không kịp thời làm sai lệch quyết định của nhà đầu tư và giá cổ phiếu. Trong bối cảnh Bộ Tài chính ban hành Quyết định 345/QĐ-BTC ngày 16/03/2020 phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính (BCTC) quốc tế tại Việt Nam, sự khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IAS/IFRS) – vốn đã được 166 quốc gia áp dụng tính đến tháng 4/2020 – đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện hoạt động CBTT.
Tác giả chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu chính:
- Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào BCTC, rất ít công trình khai thác báo cáo thường niên (BCTN). Các nghiên cứu thường tách biệt thông tin bắt buộc hoặc tự nguyện mà chưa tích hợp cả hai loại; đồng thời chỉ chú trọng đo lường mức độ CBTT mà chưa xử lý căn nguyên từ hệ thống quy định và chuẩn mực kế toán.
- Danh mục thông tin tài chính (TTTC) sử dụng ở các nghiên cứu trước thiếu sự thống nhất, dẫn đến các kết luận mâu thuẫn về tác động của các biến như đòn bẩy tài chính, cơ cấu sở hữu, tỷ suất sinh lời.
- Việc đề xuất giải pháp hoàn thiện chỉ tiêu CBTT ở các nghiên cứu trước còn mang tính cơ học, mới dừng lại ở việc nêu tên chỉ tiêu mà thiếu công thức tính toán, biểu mẫu trình bày và ý nghĩa kinh tế.
- Các công trình trước chưa đặt trong bối cảnh Bộ Tài chính ban hành lộ trình áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS tại Việt Nam.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện công bố TTTC trên BCTN của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán.
Mục tiêu cụ thể:
- Về lý luận: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về TTTC, nội dung công bố trên BCTN; làm rõ khác biệt giữa VAS và IAS/IFRS; xây dựng danh mục TTTC tự nguyện trên cơ sở nhu cầu của nhà đầu tư; xác định các yếu tố ảnh hưởng dựa trên lý thuyết nền tảng.
- Về thực tiễn: Khảo sát, đánh giá thực trạng công bố TTTC bắt buộc và tự nguyện; phân tích thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC trên BCTN của DNPTCNY; đề xuất các giải pháp khả thi theo lộ trình áp dụng IFRS và Chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam (VFRS).
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Công bố TTTC trên BCTN của các DNPTCNY bao gồm những nội dung nào?
- Câu hỏi 2: Thực trạng công bố TTTC trên BCTN của các DNPTCNY trên TTCK?
- Câu hỏi 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC trên BCTN của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam?
- Câu hỏi 4: DNPTCNY trên TTCK Việt Nam cần thực hiện những giải pháp nào để hoàn thiện công bố TTTC trên BCTN nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận cơ bản về BCTN, TTTC và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC trên BCTN; thực trạng công bố TTTC và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTTC trên BCTN của DNPTCNY.
- Phạm vi không gian: Khảo sát 300 DNPTCNY trên TTCK Việt Nam, phân bổ đều trên hai sở giao dịch: 150 doanh nghiệp tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và 150 doanh nghiệp tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), bao gồm các ngành công nghiệp, bất động sản, y tế, giáo dục...
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các TTTC công bố trên BCTN. Các hình thức khác như CBTT bất thường, CBTT theo yêu cầu, BCTC bán niên không thuộc phạm vi nghiên cứu.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu điều tra, khảo sát thu thập trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Văn bản luận án điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba hướng chủ đạo:
Hướng nghiên cứu về báo cáo thường niên
BCTN được quy định bắt buộc cho các công ty cổ phần tại Mỹ từ năm 1934, tại Anh qua Luật Doanh nghiệp năm 1985, 1989 và tại Úc qua Luật Tập đoàn năm 1991. Về mặt học thuật, Bartlett và Jones (1997) nhận thấy nội dung bắt buộc trên BCTN giai đoạn 1970–1990 tăng nhanh do sự siết chặt quản lý, kéo theo sự gia tăng của thông tin tự nguyện về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR). Deegan và Gordon (1996) chỉ ra sự gia tăng CBTT ở các công ty lớn thuộc ngành nhạy cảm với môi trường. Pascal Balata và Gaétan Breton (2005) dùng phương pháp phân tích nội dung thư chủ tịch hội đồng quản trị (HĐQT) để lập chỉ số lạc quan và ghi nhận khoảng cách giữa nội dung tường thuật và dữ liệu kế toán. John M. Penrose (2008) chỉ ra nhiều sai sót trên các biểu đồ trình bày trong BCTN. Al-Shamari và Lê Tuấn Anh (2018) nghiên cứu thông tin dự báo trên BCTN; Arvidsson Susanne (2011) khảo sát quan điểm nhà quản lý về chỉ số hiệu suất phi tài chính. Tại Việt Nam, Lê Thị Tú Oanh (2012) đánh giá 40 BCTN niêm yết giai đoạn 2007–2010 để đề xuất mẫu báo cáo; Trần Thị Hải Lý và cộng sự (2018) dùng sắc thái ngôn ngữ văn bản BCTN để đo lường tâm lý lạc quan và mối liên hệ với đòn bẩy tài chính.
Hướng nghiên cứu về hệ thống chỉ tiêu công bố thông tin bắt buộc và tự nguyện
Akhtaruddin (2005), Wallace và Naser (1995), Owusu-Ansah (1998), Healy và Palepu (2001), Taplin và cộng sự (2002), Al-Htaybat và cộng sự (2006), Anna Watson và cộng sự (2002), Omar và cộng sự (2007) đã phân định ranh giới giữa nghĩa vụ pháp lý tối thiểu và tính tự nguyện dựa trên cân nhắc chi phí - lợi ích. Để đo lường, Lê Quang Cảnh và Nguyễn Vũ Hùng (2016) áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD (2004); Ali và cộng sự (2004, trích trong Nguyễn Trọng Nguyên, 2016) kiểm tra việc tuân thủ 14 chuẩn mực kế toán tại Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh qua danh mục 131 chỉ mục. Tạ Quang Bình (2012) xây dựng bộ chỉ số tự nguyện 72 chỉ mục chia thành 6 nhóm. Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014) khảo sát 165 chỉ mục theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và chuẩn mực kế toán bằng phương pháp không trọng số. Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Lan Hương (2015) lọc danh sách của Vu (2012) đối chiếu với Thông tư 52/2012/TT-BTC để chọn 42 chỉ mục thuộc 4 nhóm. Đặng Thị Bích Ngọc (2018) mở rộng bộ chỉ mục lên 165 khoản mục theo Thông tư 200/2014/TT-BTC và Thông tư 210/2009/TT-BTC. Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) kết hợp bộ tiêu chí Standard & Poor’s (S&P) với pháp luật Việt Nam (98 điểm, 3 thành phần). Phạm Thị Bích Thu (2019) và Hồ Thị Thuỷ Tiên, Hoàng Mạnh Khánh (2020) cũng ứng dụng chỉ số S&P kết hợp Thông tư 155/2015/TT-BTC.
Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
Từ thập niên 1960, hướng tiếp cận khảo sát mức độ quan trọng của khoản mục kế toán được thực hiện bởi Buzby (1974), Firth (1979), Chandra (1974), Turkey (1985). Hướng tiếp cận tương quan thực nghiệm với đặc điểm doanh nghiệp phát triển qua nghiên cứu của Lang và Lundholm (1993), Cooke (1989, 1992), Ahmed và Nicholls (1994), Barrete (1977), Camfferman và Cooke (2002). Tại Việt Nam, Hoàng Tùng (2001) xem xét sở hữu, quy mô, sinh lời, thanh toán; Ngô Thu Giang (2014) đánh giá tính thông tin, cập nhật, rõ ràng; Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương (2014) chỉ ra ảnh hưởng của quy mô, sở hữu nước ngoài, kiểm toán, sinh lời và tuổi niêm yết trên HOSE; Nguyễn Hà My (2017) khảo sát đặc điểm quản trị; Đặng Thị Bích Ngọc (2018) nghiên cứu dữ liệu 286 doanh nghiệp giai đoạn 2014–2016; Nguyễn Văn Liêm (2019) nghiên cứu 50 công ty mẹ - con; Trương Đông Lộc và Nguyễn Xuân Thuận (2018) xem xét đặc điểm HĐQT của 207 doanh nghiệp năm 2015; Trần Thị Phương Thảo và Trần Quỳnh Anh (2020) nghiên cứu ngành thực phẩm - đồ uống; Phan Thị Hải Hà và cộng sự (2019) khảo sát 87 doanh nghiệp công nghiệp; Hồ Thị Thuỷ Tiên và Hoàng Mạnh Khánh (2019) nghiên cứu kiêm nhiệm và quy mô; Nguyễn Thị Thu Hảo (2015), Phạm Hoài Hương và Trần Thuỳ Uyên (2018), Nguyễn Thị Loan và cộng sự (2020), Nguyễn Thị Huỳnh (2020) phân tích các nhân tố quản trị tác động đến công bố tự nguyện.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị trọng tâm vào việc khắc phục các hạn chế còn tồn đọng:
- Thực hiện khảo sát đồng thời cả hai nhóm thông tin bắt buộc và tự nguyện trên BCTN thay vì nghiên cứu đơn lẻ.
- Truy nguyên nguồn gốc của việc công bố từ hệ thống văn bản pháp quy, chuẩn mực kế toán Việt Nam và chỉ ra các điểm nghẽn so sánh với IAS/IFRS.
- Thiết kế hệ thống danh mục thông tin tự nguyện có cấu trúc hoàn chỉnh bao gồm: công thức xác định, ý nghĩa kinh tế và biểu mẫu trình bày.
- Đặt toàn bộ nghiên cứu trong bối cảnh Bộ Tài chính chính thức ban hành Quyết định 345/QĐ-BTC về lộ trình áp dụng chuẩn mực BCTC tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Văn bản luận án sử dụng hệ thống lý thuyết nền tảng (được tổng hợp tại Bảng 1.1) nhằm giải thích cơ chế tác động của các yếu tố quản trị, sở hữu và tài chính tới mức độ CBTT.
Khung khái niệm của luận án xác lập các định nghĩa nòng cốt:
- Doanh nghiệp phi tài chính niêm yết: Là công ty cổ phần có cổ phiếu giao dịch trên TTCK, không thuộc các nhóm tổ chức đặc thù điều chỉnh bởi các văn bản riêng như Thông tư 210/2014/TT-BTC (công ty chứng khoán), Thông tư 05/2019/TT-BTC (tổ chức tài chính vi mô), Thông tư 22/2017/TT-NHNN (tổ chức tín dụng), Thông tư 199/2014/TT-BTC (bảo hiểm nhân thọ và tái bảo hiểm). Nhóm phi tài chính bao gồm các ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ, xây dựng, công nghệ, viễn thông.
- Báo cáo thường niên: Được luận án tổng hợp từ các quan điểm học thuật (Nguyễn Văn Ngọc, 2006; John Stittle, 2002; Brian Stanko và Thomas Zeller, 2003; Barako và cộng sự, 2006; W. Steve Albrecht và cộng sự, 2010; Clyde P. Stickney và cộng sự, 2009; Lê Thị Tú Oanh, 2012; Đặng Văn Thanh, 2018), định nghĩa là ấn phẩm đáp ứng quy định pháp lý, phản ánh tình hình hoạt động, tài chính quá khứ và dự báo tương lai, đồng thời là công cụ truyền thông của doanh nghiệp.
- Thông tin tài chính: Kế thừa quan điểm của IASB/FASB (2010), Luật Kế toán 2015, VAS 21, Nguyễn Đình Hùng (2010), Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), Nivra (2008), tác giả mở rộng khái niệm TTTC không chỉ giới hạn trong BCTC mà bao gồm toàn bộ dữ liệu biểu hiện dưới hình thái giá trị, các chỉ số, hệ số tài chính được ban giám đốc (BGĐ) và HĐQT dùng để giải trình kết quả và dự báo trong BCTN.
| Tiêu thức phân loại |
Phân nhóm cụ thể |
Nội dung/Phương tiện phản ánh |
| Theo phương tiện trình bày |
Hệ thống BCTC |
Bảng cân đối kế toán (BCĐKT), Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD), Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT), Thuyết minh BCTC (TMBCTC). |
|
Báo cáo thường niên |
Tình hình đầu tư dự án, tình hình tài chính, chỉ tiêu tài chính chủ yếu, báo cáo đánh giá của BGĐ và HĐQT. |
| Theo tính chất |
TTTC bắt buộc |
Quy định bởi Luật Kế toán, Luật Chứng khoán, Thông tư 200/2014/TT-BTC, Thông tư 155/2015/TT-BTC, Thông tư 210/2009/TT-BTC, VAS. |
|
TTTC tự nguyện |
Doanh nghiệp chủ động công bố thêm nhằm đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư dựa trên cân nhắc chi phí - lợi ích. |
| Theo thời gian |
TTTC quá khứ |
Dữ liệu lịch sử đã diễn ra, ghi nhận qua sổ sách và báo cáo kế toán. |
|
TTTC dự báo |
Số liệu kế hoạch, ước tính dòng tiền và triển vọng tương lai. |
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng quy trình nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng (Sơ đồ 1).
Phương pháp nghiên cứu định tính
- Nghiên cứu tài liệu: Rà soát các công trình khoa học, báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), hai sở giao dịch HOSE, HNX. Lập bảng so sánh, đối chiếu chi tiết các yêu cầu công bố TTTC giữa VAS và IAS/IFRS tại Phụ lục 23.
- Phỏng vấn sâu:
- Phỏng vấn chuyên gia: Giảng viên đại học, cán bộ nghiên cứu tại viện, chuyên viên cơ quan quản lý và thành viên Ban soạn thảo chuẩn mực kế toán thuộc Bộ Tài chính để đánh giá khuôn khổ pháp lý.
- Phỏng vấn doanh nghiệp: Thành viên HĐQT, BGĐ, kế toán trưởng và chuyên viên kế toán tại các DNPTCNY để xác định khó khăn, chi phí tuân thủ và khả năng áp dụng IFRS (tổng hợp tại Phụ lục 28).
- Xử lý định tính: Dùng bảng tính Excel phân loại, đối chiếu, tổng hợp dữ liệu theo từng chủ đề.
Phương pháp nghiên cứu định lượng
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát qua phiếu điều tra gồm 10 câu hỏi đóng đối với đối tượng nhà đầu tư cá nhân qua gửi trực tiếp, bưu điện, email và đường link trực tuyến nhằm lượng hóa nhu cầu thông tin tự nguyện, thời điểm và chất lượng CBTT.
- Thiết kế mẫu định lượng thứ cấp: Áp dụng cách tiếp cận nghiên cứu tại một thời điểm (kế thừa Xiao, 1999; Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương, 2014). Danh sách DNPTCNY được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái theo mã cổ phiếu, chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy lựa chọn là 4. Tổng cỡ mẫu gồm 300 DNPTCNY (150 doanh nghiệp trên HOSE và 150 doanh nghiệp trên HNX) trong giai đoạn 2017–2020. Dữ liệu thu thập từ BCTC và BCTN tải từ trang tin điện tử tài chính.
- Kỹ thuật tính chỉ số công bố thông tin: Sử dụng phương pháp không trọng số (kế thừa Owusu-Ansah, 1998; Nguyễn Công Phương và Nguyễn Thị Thanh Phương, 2014; Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan, 2015; Đặng Thị Bích Ngọc, 2018). Mỗi chỉ mục thông tin xuất hiện hoặc không xuất hiện do không có giao dịch phát sinh được chấm 1 điểm; chỉ mục có phát sinh giao dịch nhưng không trình bày nhận 0 điểm.
$$\text{Mức độ công bố TTTC (%)} = \frac{\text{Số điểm của DNPTCNY}}{\text{Tổng số điểm của toàn bộ chỉ mục}} \times 100$$
- Mô hình hồi quy đa biến và các kỹ thuật thống kê:
- Biến phụ thuộc: Mức độ công bố TTTC (tính riêng bắt buộc và tự nguyện).
- Các biến độc lập: Quy mô doanh nghiệp (đo bằng Tổng tài sản và Giá trị vốn hoá); Sở hữu nhà nước; Sở hữu tổ chức; Quy mô BGĐ; Trình độ chuyên môn kế toán của BGĐ; Khả năng sinh lời (ROA, ROE); Đòn bẩy tài chính; Tuổi của doanh nghiệp; Công ty kiểm toán (danh tiếng kiểm toán).
- Phần mềm xử lý: SPSS phiên bản 20.
- Các công cụ kiểm định: Thống kê mô tả (số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm, trung bình, độ lệch chuẩn); Phân tích tương quan Pearson; Hồi quy đa biến; Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF); Phân tích phương sai ANOVA; Kiểm định mẫu độc lập Independent-Samples T-test so sánh sự khác biệt giữa hai sàn HOSE và HNX.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên TTCK
Chương 1 thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng về DNPTCNY, định vị các đơn vị này tách biệt với khối tài chính dựa trên môi trường pháp lý quản lý kế toán. Tác giả luận giải bản chất của BCTN từ văn bản pháp lý quốc tế đến góc độ truyền thông và kết nối thị trường vốn.
Phần nội dung làm rõ cấu trúc thông tin trên BCTN gồm 7 bộ phận:
- Thông điệp của Chủ tịch HĐQT: Phản ánh định hướng chiến lược, kết quả chủ chốt và thông tin dự báo triển vọng ngành.
- Thông tin chung: Vốn điều lệ, cơ cấu sở hữu, địa bàn hoạt động, mục tiêu phát triển bền vững và nhận diện các yếu tố rủi ro.
- Tình hình hoạt động trong năm: Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, nhân sự, dự án đầu tư, cơ cấu vốn trong 2 năm liên tiếp để phân tích nguyên nhân biến động.
- Báo cáo đánh giá của Ban giám đốc: Bản giải trình trách nhiệm điều hành, đánh giá mức độ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh.
- Đánh giá của Hội đồng quản trị: Giám sát tính trung thực của ban điều hành, bảo vệ quyền lợi cổ đông và công bố định hướng trung - dài hạn.
- Quản trị doanh nghiệp: Minh bạch chính sách thù lao, lương, thưởng, lợi ích vật chất chi tiết từng cá nhân lãnh đạo (HĐQT, Ban Kiểm soát, Ban Giám đốc).
- Báo cáo tài chính đã kiểm toán: Thành phần cốt lõi cung cấp số liệu tài chính có xác nhận độc lập.
Phần tiếp theo của chương hệ thống hóa các nguyên tắc quản lý CBTT tài chính (bắt buộc và tự nguyện, quá khứ và dự báo) và xây dựng khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT, tổng kết tại Bảng 1.1 làm cơ sở kiểm định thực nghiệm.
Chương 2: Thực trạng công bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 2 trình bày bức tranh thực nghiệm từ mẫu khảo sát 300 DNPTCNY giai đoạn 2017–2020:
- Bối cảnh thị trường và tuân thủ: Tác giả thống kê diễn biến vốn hóa TTCK giai đoạn 2015–2021 (Biểu đồ 2.1), tỷ lệ DNPTCNY đạt chuẩn CBTT giai đoạn 2011–2020 (Biểu đồ 2.2) và cơ cấu các lỗi vi phạm CBTT năm 2019 (Biểu đồ 2.3).
- Thực trạng mức độ công bố TTTC bắt buộc: Thể hiện qua thống kê số lượng BCTC có ý kiến kiểm toán không phải là chấp nhận toàn phần (Bảng 2.1); mức độ CBTT bắt buộc chung (Bảng 2.2); so sánh mức độ CBTT bắt buộc giữa sàn HSX và sàn HNX (Bảng 2.3); mức độ tuân thủ chi tiết theo từng chuẩn mực kế toán VAS (Bảng 2.4).
- Thực trạng công bố TTTC tự nguyện: Tác giả thống kê mức độ công bố theo từng nhóm nội dung thông tin tự nguyện (Bảng 2.5).
- Phân tích mô hình định lượng các yếu tố ảnh hưởng:
- Bảng 2.6 tổng hợp danh mục các biến độc lập và phương pháp đo lường.
- Bảng 2.7 phản ánh giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến số.
- Bảng 2.8 trình bày ma trận hệ số tương quan Pearson giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập.
- Bảng 2.9 và Bảng 2.10 đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy qua hệ số R bình phương và kiểm định ANOVA.
- Bảng 2.11 kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến thông qua hệ số phương sai phóng đại (VIF).
- Bảng 2.12 kiểm định T-test hai mẫu độc lập so sánh mức độ công bố giữa sàn HOSE và sàn HNX.
- Bảng 2.13 tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu về chiều hướng tác động của: quy mô tài sản, giá trị vốn hóa, sở hữu nhà nước, sở hữu tổ chức, quy mô BGĐ, chuyên môn kế toán của BGĐ, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tuổi doanh nghiệp và công ty kiểm toán.
- Đánh giá thực trạng: Luận án tổng kết các thành tựu đạt được về tính tuân thủ pháp lý, đồng thời chỉ rõ các hạn chế tồn tại (như mức độ công bố tự nguyện còn thấp, thông tin phân khúc và dự báo sơ sài, thiếu đồng nhất giữa hai sàn) cùng các nguyên nhân cốt lõi từ cơ chế giám sát và nhận thức của doanh nghiệp.
Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị hoàn thiện công bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ định hướng phát triển thị trường, yêu cầu minh bạch và Đề án áp dụng IFRS của Bộ Tài chính:
- Giải pháp quản lý và hạ tầng: Tăng cường vai trò giám sát của UBCKNN, hoàn thiện tiêu chuẩn lựa chọn công ty kiểm toán độc lập đủ điều kiện kiểm toán cho DNPTCNY; xây dựng hạ tầng kỹ thuật số và cơ sở dữ liệu dùng chung để khai thác TTTC.
- Giải pháp hoàn thiện nội dung công bố TTTC theo chuẩn mực: Đề xuất chia nhóm doanh nghiệp theo lộ trình áp dụng IFRS hoặc VFRS:
- Bảng 3.1: Đề xuất danh mục các chuẩn mực kế toán cần ban hành mới phù hợp với thông lệ IFRS.
- Bảng 3.2: Đề xuất nội dung chỉnh sửa cụ thể đối với các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành.
- Giải pháp chuẩn hóa danh mục thông tin tài chính tự nguyện: Luận án xây dựng danh mục TTTC công bố tự nguyện (Bảng 3.3) và danh mục chỉ tiêu phân tích chi tiết (Bảng 3.4). Các chỉ tiêu được thiết kế cụ thể về công thức xác định, ý nghĩa kinh tế và biểu mẫu trình bày:
- Bảng 3.5: Biểu mẫu phân tích tăng trưởng doanh thu và khả năng chiếm lĩnh thị trường.
- Bảng 3.6: Biểu mẫu phân tích chi phí kinh doanh theo chức năng hoạt động.
- Bảng 3.7: Biểu mẫu phân tích chi phí quản lý doanh nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về CBTT tài chính trên BCTN của khối DNPTCNY, định vị rõ ranh giới giữa BCTN và BCTC.
- Phân loại TTTC theo ba tiêu thức: phương tiện trình bày, tính chất (bắt buộc/tự nguyện) và thời gian (quá khứ/dự báo).
- Đặt việc nghiên cứu công bố TTTC trong mối tương quan so sánh đối chiếu giữa VAS và hệ thống chuẩn mực kế toán/BCTC quốc tế (IAS/IFRS), làm rõ các điểm vênh về mặt kỹ thuật trình bày và thuyết minh.
- Xây dựng khung lý thuyết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT trên BCTN phù hợp với đặc thù TTCK đang phát triển.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm quy mô 300 DNPTCNY trên cả hai sàn HOSE và HNX giai đoạn 2017–2020, phản ánh trung thực mức độ tuân thủ quy định bắt buộc và mức độ sẵn sàng công bố tự nguyện.
- Kiểm định mô hình hồi quy đa biến và kiểm định T-test hai mẫu độc lập, xác định các nhân tố ảnh hưởng thực tế (quy mô, kiểm toán, sở hữu, ban điều hành, sinh lời, đòn bẩy...) đến mức độ công bố TTTC.
- Đề xuất hệ thống giải pháp chia theo phân nhóm lộ trình IFRS và VFRS, kèm danh mục các chuẩn mực cần ban hành mới hoặc sửa đổi.
- Xây dựng danh mục chỉ tiêu tự nguyện kèm công thức tính toán, ý nghĩa kinh tế và biểu mẫu trình bày chuẩn hóa cho các nội dung phân tích doanh thu, chi phí chức năng, chi phí quản lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào nội dung và phạm vi được tác giả trình bày trong văn bản:
- Hạn chế về phạm vi đối tượng: Luận án giới hạn khảo sát ở khối DNPTCNY, loại trừ các định chế tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán.
- Hạn chế về phạm vi công bố: Nghiên cứu tập trung vào ấn phẩm BCTN; các hình thức công bố thông tin bất thường, công bố theo yêu cầu của cơ quan quản lý và BCTC bán niên chưa được đưa vào phạm vi đánh giá.
- Hạn chế về phương pháp tiếp cận thời gian: Mô hình định lượng lựa chọn cách tiếp cận tại một thời điểm (cross-sectional) trên dữ liệu giai đoạn 2017–2020 thay vì phân tích chuỗi thời gian dài hạn dạng dữ liệu bảng (panel data).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng sang khối doanh nghiệp tài chính; đánh giá các phương thức CBTT linh hoạt khác (website, công bố bất thường); triển khai phân tích chuỗi thời gian sau khi Đề án áp dụng IFRS đi vào các giai đoạn thực thi tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, hai Sở giao dịch): Sử dụng làm cơ sở hoàn thiện quy định quản lý BCTN, định hướng sửa đổi, ban hành chuẩn mực kế toán (Bảng 3.1, Bảng 3.2), nâng cao hiệu lực kiểm tra chất lượng kiểm toán độc lập.
- Doanh nghiệp phi tài chính niêm yết: Giúp HĐQT, BGĐ và bộ phận kế toán áp dụng trực tiếp danh mục chỉ tiêu tự nguyện, bảng biểu phân tích chi phí, doanh thu (Bảng 3.3 đến Bảng 3.7) nhằm nâng cao chất lượng báo cáo và chuẩn bị lộ trình áp dụng IFRS/VFRS theo Quyết định 345/QĐ-BTC.
- Nhà đầu tư và các chuyên gia phân tích tài chính: Cung cấp công cụ đánh giá mức độ minh bạch của thông tin doanh nghiệp, khai thác dữ liệu tường thuật và số liệu kế hoạch trên BCTN.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Kế toán - Kiểm toán: Tham khảo khung phân tích lý thuyết, quy trình thiết kế chỉ số không trọng số và phương pháp kết hợp định tính - định lượng trong nghiên cứu kế toán thị trường vốn.
Câu hỏi thường gặp
1. Đối tượng DNPTCNY trong luận án được xác định dựa trên tiêu chí nào?
Luận án xác định DNPTCNY là các công ty cổ phần niêm yết trên HOSE và HNX không thuộc các lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, tổ chức tài chính vi mô – vốn chịu sự điều chỉnh của các chế độ kế toán đặc thù riêng biệt (như Thông tư 210/2014/TT-BTC, Thông tư 05/2019/TT-BTC, Thông tư 22/2017/TT-NHNN, Thông tư 199/2014/TT-BTC).
2. Chỉ số mức độ công bố thông tin tài chính được tính toán theo nguyên tắc nào?
Chỉ số được tính theo phương pháp không trọng số, trong đó mỗi chỉ mục thông tin xuất hiện hoặc không xuất hiện do không có giao dịch phát sinh được chấm 1 điểm; nếu doanh nghiệp có phát sinh giao dịch nhưng không trình bày trên BCTN sẽ nhận 0 điểm. Mức độ công bố là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số điểm doanh nghiệp đạt được trên tổng số điểm của toàn bộ chỉ mục khảo sát.
3. Mẫu nghiên cứu định lượng của luận án được chọn theo phương thức nào?
Tác giả sắp xếp danh sách DNPTCNY theo thứ tự bảng chữ cái của mã cổ phiếu, sau đó chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách lựa chọn là 4. Quy mô mẫu gồm 300 doanh nghiệp, phân bổ đều 150 doanh nghiệp trên HOSE và 150 doanh nghiệp trên HNX trong giai đoạn 2017–2020.
4. Thông tin tài chính trên BCTN được phân loại theo những góc độ nào?
Luận án phân loại theo ba tiêu thức: (i) Phương tiện trình bày (hệ thống BCTC và các báo cáo bộ phận trên BCTN); (ii) Tính chất thông tin (TTTC bắt buộc theo luật định và TTTC tự nguyện); (iii) Thời gian phản ánh (TTTC quá khứ và TTTC mang tính dự báo).
5. Đề xuất về giải pháp thông tin tự nguyện của luận án có điểm gì khác biệt so với các nghiên cứu trước?
Thay vì chỉ liệt kê tên gọi các chỉ mục một cách cơ học, luận án xây dựng hệ thống chỉ tiêu tự nguyện hoàn chỉnh gồm tên chỉ tiêu, công thức xác định cụ thể, ý nghĩa kinh tế đối với người sử dụng và thiết kế các bảng biểu mẫu chuẩn hóa để trình bày trên BCTN (về tăng trưởng doanh thu, chi phí chức năng, chi phí quản lý).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Trâm Anh đã hệ thống hóa lý luận và đánh giá thực trạng công bố thông tin tài chính bắt buộc và tự nguyện trên báo cáo thường niên của 300 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX giai đoạn 2017–2020. Công trình xác lập mô hình thực nghiệm phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính, đồng thời chỉ ra khoảng cách giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam và thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, luận án xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ về quản lý thị trường, chuẩn hóa chuẩn mực theo Đề án áp dụng IFRS của Bộ Tài chính và thiết lập danh mục chỉ tiêu tự nguyện kèm công thức, biểu mẫu chi tiết.