MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thị trường chứng khoán (TTCK) là một kênh huy động vốn dài hạn, hiệu quả cho nền kinh tế của các nước phát triển và các nước đang phát triển như Việt Nam. Bên cạnh kênh cho vay của các ngân hàng thương mại truyền thống, TTCK cũng đang đóng góp một phần không nhỏ vào việc cung cấp nguồn tài chính cho tăng trưởng kinh tế. Một thị trường tài chính ổn định trong đó có TTCK phát triển yếu tố quan trọng mang lại sự tăng trưởng cho nền kinh tế của mỗi quốc gia.
TTCK chỉ có thể phát triển khi nó đảm bảo nguyên tắc của công bố thông tin (CBTT) và đây cũng là cách thức để các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) thể hiện sự công khai minh bạch thông tin đối với nhà đầu tư và các đối tượng có liên quan. CBTT đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến quá trình phân bổ hiệu quả các nguồn lực và hạn chế sự bất cân xứng thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Doanh nghiệp là người chủ động CBTT và là người hiểu rõ nhất về thực trạng hoạt động kinh doanh của mình, ngược lại nhà đầu tư là những người ở thế bị động và phụ thuộc phần lớn vào các thông tin do doanh nghiệp cung cấp. Khi những thông tin do doanh nghiệp cung cấp không đầy đủ, không kịp thời và không phản ánh đúng giá trị của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, giá của cổ phiếu và sự phát triển lâu dài của TTCK.
CBTT bao gồm thông tin tài chính (TTTC) và thông tin phi tài chính, thông tin bắt buộc và thông tin tự nguyện, các thông tin này có thể được công bố thường xuyên thông qua các phương tiện CBTT theo quy định hoặc công bố định kỳ trên báo cáo tài chính (BCTC), báo cáo thường niên (BCTN). Thông tin bắt buộc được quy định bởi các văn bản pháp lý, thông tin tự nguyện là những thông tin mà doanh nghiệp công bố bổ sung bên cạnh thông tin bắt buộc nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin. TTTC là nguồn thông tin quan trọng để kết nối doanh nghiệp và người sử dụng. TTTC không những giúp người sử dụng phân tích, đánh giá tình hình tài chính hiện tại mà còn có khả năng dự báo sự phát triển của DNPTCNY trong tương lai, đặc biệt khi các TTTC này được ban giám đốc (BGĐ), hội đồng quản trị (HĐQT) của DN sử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 dụng để giải trình kết quả đạt được trong quá khứ, làm căn cứ xây dựng kế hoạch cho các kỳ kinh doanh tiếp theo.
Để đảm bảo lợi ích của người sử dụng TTTC cũng như đảm bảo tính công khai mọi hoạt động của DNPTCNY trên TTCK, các cơ quan quản lý, các tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán đã không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản quy định về công bố, trình bày thông tin trên BCTC, BCTN. Trên thế giới, nhằm đẩy mạnh quá trình hội nhập kế toán, Ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) đã được thành lập với mục tiêu là “hình thành một hệ thống chuẩn mực kế toán phục vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao, dễ hiểu và có thể áp dụng trên toàn thế giới”. Kể từ khi hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế ra đời, tính đến tháng 4/2020, trên thế giới đã có 166 quốc gia đã hoặc đang trên lộ trình áp dụng IFRS. Tại Việt Nam, ngày 16 tháng 3 năm 2020, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định 345/QĐ-BTC phê duyệt Đề án áp dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính để khẳng định việc Việt Nam sẽ áp dụng IFRS.
Có nhiều ý kiến ủng hộ việc áp dụng IFRS bởi nó giúp cải thiện tính so sánh của thông tin trên BCTC, giảm chi phí và rủi ro sử dụng thông tin của các nhà đầu tư, tăng tính rõ ràng của thông tin. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, IFRS dựa trên nguyên tắc, có tính linh hoạt cao nên khó vận dụng vào hoàn cảnh các nước đang phát triển hơn nữa việc thiếu một thị trường phát triển cũng làm cho các nước này khó có thể áp dụng phương pháp ước tính giá trị hợp lý, một nguyên tắc quan trọng trong việc trình bày thông tin trên BCTC. Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Hoài Hương (2010) [10], có sự khác biệt đáng kể giữa VAS và IAS/IFRS, đặc biệt là vấn đề CBTT vì vậy BCTC được lập theo VAS có thể không đáp ứng được nhu cầu thông tin ở mức độ hợp lý để có thể ra quyết định của các đối tượng liên quan. Trong những năm gần đây, Việt Nam được biết đến như một quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tương đối cao so với các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.
Tổng giá trị vốn huy động qua TTCK từ khi khai trương hoạt động đến nay đã đạt trên 2 triệu tỷ đồng, đóng góp bình quân 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tương đương gần 60% so với nguồn cung vốn tín dụng thông qua hệ thống ngân hàng. Số lượng tài khoản NĐT đã không ngừng gia tăng, từ khoảng 3.000 tài khoản NĐT tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm 2000, cho đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 nay đạt 1,69 triệu tài khoản, tăng 580 lần so với năm 2000; số lượng NĐT nước ngoài cũng đã tăng 2,3 lần so với năm 2007, huy động khoảng 17,2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp (cao nhất từ trước tới nay), góp phần làm tăng quy mô vốn đầu tư xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Số lượng DNPTCNY chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số DNNY trên TTCK với sự đa dạng về lĩnh vực kinh doanh như công nghiệp, bất động sản, Y tế, sản xuất… đóng góp vai trò rất lớn trong sự phát triển của nền kinh tế nói chung và TTCK nói riêng. Các nghiên cứu về CBTT trên TTCK đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm tuy nhiên theo tìm hiểu của NCS, phần lớn các nghiên cứu trước đây tập trung vào các thông tin trên BCTC mà rất ít các nghiên cứu khai thác thông tin trên BCTN.
Về phương pháp nghiên cứu thường sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đến mức độ CBTT từ đó đưa ra khuyến nghị với các chủ thể khác nhau mà chưa chỉ ra được giải pháp căn bản để hoàn thiện CBTT đó là phải hoàn thiện hệ thống các quy định, nguyên tắc ghi nhận, trình bày TTTC và quy định này cần phải phù hợp, thống nhất với thông lệ, chuẩn mực kế toán quốc tế. Đặc biệt, sự khác biệt về cách thức ghi nhận thông tin và số lượng TTTC được trình bày theo yêu cầu của VAS với IAS/ IFRS sẽ làm giảm tính hữu ích của TTTC cung cấp cho người sử dụng. Vì vậy, nếu chỉ nghiên cứu các vấn đề về công bố TTTC của DNPTCNY dựa trên VAS mà chưa quan tâm đến những khác biệt về công bố TTTC giữa VAS và IAS/IFRS là chưa đầy đủ. Hơn nữa, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nhu cầu về huy động vốn trên TTCK quốc tế của các DNPTCNY ngày càng cao nên việc đáp ứng công bố TTTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS là điều hết sức cần thiết.
Đặc biệt trong bối cảnh BTC đã ban hành quyết định áp dụng chuẩn mực BCTC tại Việt Nam thì vấn đề về hoàn thiện công bố TTTC theo chuẩn mực BCTC cần được quan tâm. Từ những lý do trên, NCS lựa chọn đề tài “Công bố thông tin tài chính trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài luận án của mình. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan nghiên cứu 2.
Các nghiên cứu về báo cáo thường niên Báo cáo thường niên là báo cáo bắt buộc mà CTCP phải công bố cho cổ đông được Quốc hội Mỹ thông qua vào năm 1934. Luật doanh nghiệp năm 1985 và 1989 của Anh yêu cầu BCTN cần trình bày các hoạt động cơ bản của DN, tóm tắt hoạt động kinh doanh trong năm. Hình thức của BCTN được quy định bắt buộc trong Luật Tập đoàn của Úc năm 1991. Mặc dù BCTN xuất hiện sau BCTC khá lâu nhưng không thể phủ nhận vai trò của BCTN trong việc cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư.
Nếu BCTC là một trong những nguồn thông tin quan trọng trong việc cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp (Lê Thị Tú Oanh, 2012)[29] thì BCTN lại cung cấp thông tin các dự án kinh doanh, kế hoạch kinh doanh cũng như chiến lược và định hướng phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, ngoài thông tin trên BCTC các đối tượng quan tâm đến HĐKD của doanh nghiệp còn tìm kiếm thêm các thông tin diễn giải, bổ sung từ báo cáo của ban giám đốc, báo cáo của chủ tịch HĐQT. Chính vì vậy, BCTN trở thành nguồn thông tin quan trọng giúp cho các nhà đầu tư, các đối tượng khác có thể tìm hiểu rõ hơn về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Đặng Thị Bích Ngọc, 2018)[25]. So với các nghiên cứu về CBTT trên BCTC đã được thực hiện trong nhiều năm thì các nghiên cứu về CBTT trên BCTN được thực hiện muộn hơn rất nhiều và ít hơn cả về số lượng.
Bartlett và Jones (1997)[51] nhận thấy rằng từ năm 1970 đến 1990 nội dung CBTT bắt buộc trên BCTN tăng nhanh do sự thay đổi trong yêu cầu của các cơ quan quản lý, cùng với đó các thông tin tự nguyện cũng gia tăng với chủ đề chính là báo cáo xã hội của doanh nghiệp (CSR), liên quan đến sự tương tác của công ty với môi trường tự nhiên, nhân viên, cộng đồng và khách hàng. Nội dung CBTT ngày càng gia tăng, đặc biệt là giữa các công ty lớn trong ngành công nghiệp nhạy cảm với môi trường (Deegan và Gordon, 1996)[73] Ngoài các nghiên cứu về số lượng thông tin công bố, các nghiên cứu sau này quan tâm đến chất lượng thông tin công bố, mối quan hệ giữa TTTC công bố và các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thông tin diễn giải khác được trình bày trên trên BCTN. Pascal Balata, Gaétan Breton (2005)[107] đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung trong thư của của chủ tịch HĐQT và xây dựng một chỉ số về mức độ lạc quan từ đó so sánh chỉ số này với sự thay đổi của các con số hoặc tỷ lệ chủ yếu từ BCTC.