Công Bằng Xã Hội và Những Yếu Tố Tác Động Đến Thực Hiện Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh công bằng xã hội và những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở việt nam hiện nay, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Triết Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2008

118
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

1.1.1. Quan niệm về công bằng xã hội

1.2. Những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1. Thực trạng tác động của những yếu tố cơ bản đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

2.2. Một số giải pháp điều tiết các yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Công Bằng Xã Hội Tại Việt Nam Hiện Nay

Công bằng xã hội (CBXH) là một khái niệm quan trọng trong sự phát triển bền vững của xã hội. Tại Việt Nam, CBXH không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Khát vọng về CBXH đã được khẳng định qua nhiều chính sách và chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc thực hiện CBXH vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay.

1.1. Khái Niệm Công Bằng Xã Hội Là Gì

Công bằng xã hội được hiểu là sự phân phối công bằng các nguồn lực và cơ hội trong xã hội. Điều này bao gồm việc đảm bảo mọi người đều có quyền tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế và việc làm. CBXH không chỉ đơn thuần là bình đẳng về quyền lợi mà còn là sự công bằng trong việc thực hiện các quyền đó.

1.2. Vai Trò Của Công Bằng Xã Hội Trong Phát Triển Kinh Tế

CBXH đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững. Khi xã hội công bằng, người dân sẽ có động lực hơn trong việc đóng góp cho sự phát triển kinh tế. Điều này không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống mà còn tạo ra một môi trường ổn định cho đầu tư và phát triển.

II. Những Thách Thức Đối Với Công Bằng Xã Hội Tại Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện CBXH. Sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp và các vấn đề xã hội khác đang đặt ra nhiều câu hỏi về tính bền vững của các chính sách hiện tại. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế mà còn đến sự ổn định xã hội.

2.1. Khoảng Cách Giàu Nghèo Tăng Cao

Khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng nhanh chóng, đặc biệt giữa các vùng miền. Những người sống ở thành phố lớn thường có mức sống cao hơn so với những người ở nông thôn. Điều này dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản và cơ hội phát triển.

2.2. Tình Trạng Thất Nghiệp Và Thiếu Việc Làm

Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là đối với thanh niên. Việc thiếu cơ hội việc làm không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của người dân mà còn gây ra nhiều hệ lụy xã hội khác.

III. Phương Pháp Giải Quyết Vấn Đề Công Bằng Xã Hội

Để thực hiện CBXH hiệu quả, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các chính sách cần được thiết kế để đảm bảo sự công bằng trong phân phối tài nguyên và cơ hội. Việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về CBXH cũng là một yếu tố quan trọng.

3.1. Chính Sách Phân Phối Tài Nguyên Công Bằng

Cần thiết phải có các chính sách phân phối tài nguyên công bằng hơn, đảm bảo mọi người đều có cơ hội tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Điều này bao gồm việc cải cách hệ thống thuế và các chính sách an sinh xã hội.

3.2. Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Công Bằng Xã Hội

Giáo dục và nâng cao nhận thức về CBXH trong cộng đồng là rất quan trọng. Các chương trình truyền thông cần được triển khai để người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện CBXH.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Về Công Bằng Xã Hội Tại Việt Nam

Việc thực hiện CBXH tại Việt Nam đã có những kết quả tích cực, nhưng vẫn cần nhiều nỗ lực hơn nữa. Các chương trình phát triển cộng đồng và chính sách an sinh xã hội đã góp phần nâng cao đời sống của người dân, nhưng cần được mở rộng và cải thiện hơn nữa.

4.1. Các Chương Trình Phát Triển Cộng Đồng

Các chương trình phát triển cộng đồng đã giúp cải thiện đời sống của nhiều người dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa. Tuy nhiên, cần có sự đầu tư hơn nữa để đảm bảo tính bền vững của các chương trình này.

4.2. Chính Sách An Sinh Xã Hội Hiệu Quả

Chính sách an sinh xã hội cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của người dân một cách hiệu quả hơn. Việc cải cách hệ thống an sinh xã hội sẽ giúp giảm thiểu tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng trong xã hội.

V. Kết Luận Về Công Bằng Xã Hội Tại Việt Nam

Công bằng xã hội là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển bền vững của Việt Nam. Để thực hiện CBXH hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền và cộng đồng. Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến CBXH không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là của toàn xã hội.

5.1. Tương Lai Của Công Bằng Xã Hội Tại Việt Nam

Tương lai của CBXH tại Việt Nam phụ thuộc vào khả năng của chính phủ trong việc thực hiện các chính sách công bằng và hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng cũng là yếu tố quyết định cho sự thành công của các chính sách này.

5.2. Những Đề Xuất Để Nâng Cao Công Bằng Xã Hội

Cần có những đề xuất cụ thể để nâng cao CBXH, bao gồm việc cải cách chính sách, tăng cường sự tham gia của cộng đồng và nâng cao nhận thức về CBXH trong xã hội.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh công bằng xã hội và những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm hai chƣơng với năm tiết. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI 1.

Quan niệm về công bằng xã hội CBXH là vấn đề đƣợc đặt ra từ lâu trong lịch sử xã hội loài ngƣời, ngay từ khi con ngƣời ý thức đƣợc những bất công trong xã hội loài ngƣời. Do đó, nó là một trong những vấn đề quan trọng đƣợc con ngƣời, trong mọi thời đại, quan tâm và đƣa ra những cách giải quyết khác nhau. CBXH là một nội dung tất yếu của tiến bộ xã hội, trở thành một trong những mục tiêu mà con ngƣời hƣớng đến thông qua cuộc đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Thực tiễn lịch sử xã hội loài ngƣời cũng luôn chứng tỏ rằng, sự phát triển của xã hội luôn vận động theo hƣớng đạt đến sự công bằng và bình đẳng ngày càng nhiều hơn.

Tuy nhiên, ở mỗi một thời kỳ lịch sử khác nhau, nội dung của CBXH lại đƣợc hiểu khác nhau. Một số quan niệm về công bằng xã hội trong lịch sử - Quan niệm về CBXH trong các xã hội tiền TBCN: Vào giai đoạn cuối của chế độ công xã nguyên thủy ở phƣơng Tây, cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, chế độ tƣ hữu xuất hiện dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau. Các nhà nƣớc cổ đại dần dần xuất hiện, mà ban đầu dƣới hình thức những thành bang, vốn là những thành trì do các bộ lạc xây dựng nên với mục đích phòng thủ, sau này nó phát triển lên thành trung tâm của nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ. Mỗi một thành bang đều có các tổ chức chính trị và hành chính riêng, có sinh hoạt kinh tế, xã hội, phong tục tập quán riêng, có thần bảo hộ và các nghi thức tôn giáo riêng.

Việc sử dụng các công cụ bằng sắt trong sản xuất thủ công nghiệp đã khiến cho thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, sản xuất hàng hóa phát triển đã kích thích thƣơng nghiệp và mậu dịch hàng hải phát triển. Các khoa học tự nhiên nhƣ thiên văn học, khí tƣợng, vật lý, toán học cũng do vậy mà phát sinh và phát triển. Giao lƣu văn hóa với các nƣớc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vùng Cận Đông đã biến các thành phố ở các quốc gia cổ đại, đặc biệt là Hy Lạp, La Mã cổ đại, trở thành các trung tâm văn minh lớn của Châu Âu thời bấy giờ. Sự phát triển về kinh tế - xã hội nhƣ vậy làm biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp và phá hủy công xã nông thôn.

Trong xã hội, một lực lƣợng đông đảo những ngƣời nô lệ đƣợc hình thành, là lực lƣợng lao động chủ yếu trong xã hội, nhƣng họ chỉ đƣợc coi là “công cụ biết nói”, không đƣợc hƣởng một chút quyền lợi gì. Nhà nƣớc lúc bấy giờ là nền chuyên chính tàn bạo của giai cấp chủ nô, giai cấp thống trị trong xã hội. Bởi vậy xã hội chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì đấu tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo càng ngày càng gay gắt. Việc sử dụng rộng rãi sức lao động của nô lệ là một trong những nguyên nhân làm cho lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay.

Nền kinh tế chiếm hữu nô lệ đã sinh ra một đội ngũ trí thức đông đảo chuyên nghiên cứu triết học, khoa học. Tuy vậy, đội ngũ trí thức này đều xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, do vậy các tƣ tƣởng của họ chủ yếu nhằm phục vụ và bảo vệ cho giai cấp chủ nô. Trong quan niệm của hầu hết các nhà tƣ tƣởng thời kỳ cổ đại ở phƣơng Tây, công bằng và bình đẳng xã hội bị giới hạn bởi lập trƣờng giai cấp. Theo họ, trong xã hội cần phải duy trì các hạng ngƣời khác nhau và do đó không thể có bình đẳng hoàn toàn giữa mọi ngƣời.

Theo đó, công bằng là công bằng giữa những ngƣời trong cùng một đẳng cấp chứ không phải giữa những ngƣời ở các đẳng cấp khác nhau.CN), một trong những nhà tƣ tƣởng kiệt xuất thời cổ đại đã có những quan điểm cụ thể về công bằng và bình đẳng xã hội. Trong hai tác phẩm “Nhà nƣớc” và “Luật lệ”, Platon đã khẳng định không có sự bình đẳng giữa các tầng lớp ngƣời khác nhau trong xã hội. Từ đó, ông cho rằng, cần phải duy trì các hạng ngƣời khác nhau, thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu xã hội. Nhƣ vậy, theo Platon, trong xã hội đƣơng thời hoàn toàn không có sự bình đẳng và điều đó là tất yếu.

Tuy nhiên, trong quan niệm của Platon, mặc dù xã hội không có sự bình đẳng nhƣng vẫn có công bằng, bởi lẽ công 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng là ở chỗ mỗi hạng ngƣời dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm của mình, sống đúng tầng lớp của mình và biết đƣợc thân phận của mình.CN), nhà triết học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp cổ đại, cho rằng, công bằng là phạm trù gắn với nhà nƣớc, bởi luật pháp – tiêu chuẩn của sự công bằng – là quy phạm điều chỉnh mọi sự giao tiếp chính trị - xã hội. Trên cơ sở pháp luật, tùy thuộc vào sự cống hiến của mỗi ngƣời mà họ đƣợc hƣởng thụ một cách tƣơng xứng. Với quan niệm này, Aritstot đã hƣớng CBXH tới lĩnh vực phân phối trên cơ sở pháp luật. Tuy vậy, cũng nhƣ Platon, do chƣa thoát khỏi lập trƣờng giai cấp của mình, Aritsot quan niệm công bằng là sự bình đẳng giữa những ngƣời có cùng địa vị xã hội, theo đó mỗi ngƣời phải sống đúng với địa vị xã hội của mình.

Bản thân sự bất bình đẳng giữa các đẳng cấp trong xã hội cũng là công bằng. Trong xã hội phong kiến châu Âu, dƣới sự thống trị của giáo hội và nhà thờ, các nhà tƣ tƣởng thời kỳ này hầu nhƣ không đƣa ra đƣợc một quan niệm đáng chú ý nào về CBXH và tiến bộ xã hội. Sự vận động của xã hội và bản thân con ngƣời sống trong xã hội đó đều đƣợc quan niệm là bị điều khiển và an bài bởi Thƣợng đế, con ngƣời không có vai trò gì trong quá trình vận động của xã hội. Khát vọng về CBXH trong thời kỳ này đƣợc thể hiện chủ yếu thông qua các cuộc đấu tranh, khởi nghĩa đơn lẻ.

- Quan niệm về CBXH trong xã hội TBCN: Bƣớc sang giai đoạn Phục Hƣng ở Châu Âu (khoảng từ cuối thế kỷ XIV – XVIII), quan hệ sản xuất TBCN dần dần xác lập đƣợc địa vị của mình, xã hội cũng dần thoát khỏi sự thống trị của chế độ phong kiến và những quan điểm thần học trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học thực nghiệm, nền sản xuất công nghiệp cũng có những bƣớc phát triển mới. Các công trƣờng thủ công, hình thức sản xuất mang tính chất TBCN đầu tiên ra đời, thay thế phƣờng hội, tập trung dần năng lực sản xuất. Bên cạnh đó, công cụ sản xuất nông nghiệp cũng đƣợc cải tiến, đất đai canh tác đƣợc mở rộng; sản xuất, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trao đổi hàng hóa có những bƣớc tiến dài, phá vỡ khuôn khổ tự cung tự cấp.

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa, mức độ trao đổi hàng hóa ngày càng mở rộng hơn và ở trình độ cao hơn. Sự xuất hiện và ngày càng phát triển của phƣơng thức sản xuất TBCN nhƣ một xu thế của lịch sử đã làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp tƣ sản cùng hệ tƣ tƣởng tƣ sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ tƣ tƣởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu sắc. Chính mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hàng loạt các cuộc cách mạng tƣ sản nổ ra trên khắp lãnh thổ Châu Âu. Những cơ sở kinh tế - xã hội này đã khiến cho nội dung của những tƣ tƣởng về CBXH không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở địa vị xã hội, mà đã ngày càng dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản xuất hàng hóa, sử dụng nó nhƣ là thƣớc đo của CBXH.

Tuy nhiên, trong nền sản xuất hàng hóa TBCN, mặc dù quan hệ trao đổi ngang giá đƣợc coi là thƣớc đo của CBXH, nhƣng quan hệ phân phối lại lệ thuộc vào quan hệ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất. Cho nên thƣớc đo ấy của CBXH chỉ là công bằng đối với những ngƣời sở hữu tƣ liệu sản xuất, ngƣợc lại là sự bất công và bất bình đẳng đối với những ngƣời chỉ sống dựa vào sức lao động của mình. Giải pháp để giải quyết vấn đề xã hội nhằm phát triển kinh tế cũng chỉ mang tính chất nửa vời, và chỉ đƣợc chính phủ tƣ sản xem là phƣơng tiện để duy trì sự tồn tại của chế độ TBCN. Vì thế, trong CNTB, CBXH chỉ là phƣơng tiện chứ không phải là mục đích.

Quan niệm về bình đẳng và tự do trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tƣ tƣởng truyền thống, mà còn phát triển với những màu sắc riêng của thời đại lịch sử. Đa số các nhà tƣ tƣởng tiến bộ trong thời kỳ này, trong khi đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế với nền tảng tƣ tƣởng của nó là thần học, cũng nhƣ phê phán tính trạng bất công nảy sinh trong xã hội TBCN, họ đều đƣa ra những mô hình xã hội mới xây dựng trên mô hình của tự nhiên. Đồng thời, các nhà tƣ tƣởng luôn đề cao con ngƣời và các quyền của con ngƣời trong xã hội. Tình hình đó thúc đẩy hình thành những quan niệm mới về 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CBXH, tiến bộ xã hội, khi nhiều nhà tƣ tƣởng coi công bằng và bình đẳng là tiêu chuẩn để đánh giá một xã hội tiến bộ.

Tiếp thu tƣ tƣởng của các đại biểu thời kỳ Phục hƣng, các nhà XHCN không tƣởng mà tiêu biểu là ba nhà XHCN không tƣởng – phê phán nửa đầu thế kỷ XIX ở Pháp và Anh là Xanh-Xi-mông (1760 – 1825), S.Ô-oen (1771 – 1858) đều cho rằng trong xã hội TBCN không thể có CBXH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ