Đặt vấn đề TP.HCM đã có hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhưng tình trạng ngập nước đô thị (NNĐT) chỉ mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20 (TS. Trịnh Hoàng Ngạn), đồng hành cùng với tiến trình đô thị hoá trong kế hoạch tái thiết sau chiến tranh. Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, úng, ngập ở TP.HCM đã trở thành một vấn đề thời sự gây không ít tranh cãi, là nỗi bức xúc của cộng đồng dân cư, các nhà khoa học và quản lý. Chính quyền Thành phố đã kêu gọi, khuyến khích đầu tư nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp khắc phục hậu quả do NNĐT gây ra.
Kết quả là hàng chục dự án, chương trình chống ngập đã được thực hiện bằng nguồn vốn trong nước và ngoài nước, ước tính khoảng 2 tỷ USD đã được giải ngân. Kết quả bước đầu của các dự án chống ngập và vệ sinh môi trường biểu hiện rõ nét bằng việc cải thiện cảnh quan môi trường dọc các tuyến kênh trục thoát nước đã được đầu tư hoàn thiện như: Nhiêu Lộc – Thị Nghè, Tàu Hũ – Bến Nghé, Tân Hoá – Lò Gốm …Tuy nhiên tình trạng úng, ngập vẫn diễn ra hàng năm, nhất là vào mùa mưa, cả vùng nội thành đến ngoại vi Thành phố. Rõ ràng hiệu quả đầu tư chống ngập còn hạn chế, mục tiêu xoá ngập chưa đạt như đã nêu ra trong các quy hoạch tiêu, thoát nước vĩ mô của JICA (2000), thông qua các dự án cải thiện cơ sở hạ tầng thoát nước bằng nguồn vốn trong nước, vốn vay ODA hay Quy hoạch thuỷ lợi chống ngập của Bộ NNPTNT (Quy hoạch 1547) và một số dự án khác. Cho đến cuối năm 2015 và đầu mùa mưa 2016, hiện tượng NNĐT ở TP.HCM vẫn diễn biến phức tạp kết hợp với tình trạng kẹt xe (ùn tắc giao thông), ô nhiễm môi trường gia tăng v.
Tổng hoà các yếu tố môi trường thì NNĐT sẽ trở thành vấn nạn, tiềm ẩn nguy cơ lũ, lụt có thể xảy ra trong tương lai, trước bối cảnh BĐKH toàn cầu và NBD. Giải pháp chống ngập hiện nay cho TP.HCM không đơn giản, nhưng trước bối cảnh BĐKH và NBD thì giải quyết bài toán đó lại càng vô cùng khó khăn, phức tạp gấp bội, đòi hỏi Thành phố phải đầu tư nhiều hơn nữa, đa dạng các loại hình nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp chống ngập hữu hiệu hơn, kết hợp biện pháp công trình và phi công trình có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, quản lý, cả 2 trong và ngoài nước, với tầm nhìn dài hạn, tương thích các kịch bản thích ứng với BĐKH khác nhau. Trong đó việc nghiên cứu cảnh báo hiểm hoạ lũ, lụt từ xa là một hoạt động nghiên cứu mới, không thừa, cần thiết để cập nhật, bổ sung các quy hoạch chống ngập (với tầm nhìn vĩ mô, dài hạn) phục vụ phát triển kinh tế xã hội (KTXH) bền vững cho Thành phố nói riêng và cho cả nước nói chung. Đây chính là tiền đề giúp cho học viên đề xuất đề tài nghiên cứu luận văn cao học có tên gọi là: “Cơ sở khoa học cảnh báo hiểm hoạ lũ, lụt cho TP.HCM trước bối cảnh biến đổi khí hậu”.
Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Với tổng diện tích tự nhiên 2109 km2 và khoảng hơn 10 triệu dân (2015), TP.HCM là một trung tâm kinh tế, tài chính, truyền thông, khoa học, nơi giao lưu văn hoá và du lịch…, đã và đang đóng vai trò quan trọng, là đầu tầu kinh tế của cả nước (đóng góp tới 20,2% tổng sản phẩm quốc nội GDP; 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9 % dự án nước ngoài đầu tư vào Việt Nam). Tuy nhiên, TP.HCM cũng là một trong 10 Thành phố đới bờ của Việt Nam được đánh giá có nguy cơ chịu tác động lớn của BĐKH và NBD. Ước tính đến năm 2050, TP.HCM có khoảng 61% đất đô thị và 67% đất công nghiệp sẽ bị ngập, lụt nếu các biện pháp kiểm soát triều không được thực hiện (ABD, 2010). BĐKH là một quá trình diễn ra theo thời gian dài, khó phát hiện và không thể đảo ngược mà chúng ta chỉ có thể làm chậm quá trình.
BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống con người với cường độ và mức độ ngày càng tăng, khó lường trước. Đó là một thách thức to lớn về môi trường mà nhân loại đang phải đối mặt, đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng mọi mặt đến phát triển KTXH, cuộc sống và sức khỏe con người, hoạt động sản xuất, xây dựng và bảo trì cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nước và các hệ sinh thái trong lưu vực sông. Do tác động của BĐKH, nhiệt độ và lượng mưa thay đổi kéo theo bão, lụt tăng lên kết hợp NBD sẽ là những hiểm họa tiềm tàng trong tương lai. Nằm ở vị trí hướng ra biển Đông, một trong 5 trung tâm phát sinh bão, Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng phải đối mặt với các cơn bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển thuộc khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, lại chịu tác động của nhiều loại hình thời tiết 3 phức tạp.
Đó chính là tác nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra thiên tai lũ, lụt trải dài trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tác động do mực NBD không giống nhau, tuỳ thuộc vào vùng và quốc gia. Những nước thuộc các vùng Đông Á, Trung Đông, Bắc Phi có thể là những nơi sẽ chịu tác động lớn nhất do nước biển dâng, như Bahamas, Việt Nam và Ai Cập. Cũng theo ước tính của tổ chức OECD thì Châu Á có 6 trong 10 Thành phố sẽ chịu tác động nặng nhất của BĐKH và NBD.
Trong số đó có Việt Nam và Bangladesh. Trong các Thành phố của Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH phải kể đến là TP.HCM, Cần Thơ, Hội An… Hiệu ứng ngập, úng ở TP.HCM hiện nay được coi là biển hiện tác động của BĐKH. Theo đánh giá của các nhà khoa học nghiên cứu về thiên tai do BĐKH thì lũ, lụt là một trong những rủi ro, hiểm hoạ tiềm tàng, khó lường nhất. Đặc biệt ngập, lụt ở các đô thị lớn ven biển do ảnh hưởng của sóng thần, triều cường, mưa lớn đã gây ra thảm hoạ với những tổn thất khủng khiếp nhất về người và vật chất.
Các nhà thống kê học đã dẫn chứng số liệu về sự gia tăng những thiệt hại do lũ, lụt gây ra. Nếu như đầu thế kỷ 20, trung bình mỗi năm trên Thế giới, thiệt hại do ngập, lụt vào khoảng 100 triệu USD thì đến nửa sau của thế kỷ con số này đã vượt quá 1 tỷ USD. Trong mười năm trở lại đây thiệt hại do lũ, lụt đã vượt trên 10 tỷ USD. Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục Đê điều và phòng chống lụt bão, BNNPTNT, từ năm 1954-2015, trong tổng số gần 800 cơn bão hoạt động ở biển Đông (50% xuất phát từ Tây Thái Bình Dương), có khoảng 290 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết nước ta gây ra những trận lũ, lụt khủng khiếp trong các vùng núi, đồng bằng và đô thị làm thiệt hại hàng trăm triệu USD về KTXH và môi trường, hàng ngìn người chết và mất tích.
Trung bình mỗi năm có 5-6 cơn, năm nhiều nhất là năm 1978 có 16 cơn bão, áp thấp đổ bộ vào nước ta. Số lượng bão, áp thấp đổ bộ vào Nam Bộ ít hơn, nhưng tác động cũng vô cùng lớn. Cũng trong khoảng thời gian 60 năm trở lại đây, có khoảng 10 cơn bão, áp thấp đổ bộ vào phía Nam. Cũng theo ghi nhận và đánh giá của các cơ quan dự báo và nghiên cứu khí tượng thuỷ văn của BTNMT cho thấy các cơn bão hoạt động trên biển Đông đang 4 có xu thế dịch chuyển vào phía Nam, trong đó có TP.
Đối với TP.HCM, do vị trí địa lý đặc thù nằm kẹp giữa hai lưu vực sông Đồng Nai –Sài Gòn, châu thổ sông Mê Công (ĐBSCL) – Vàm Cỏ và biển Đông cũng như đặc điểm tự nhiên đã tạo cho Thành phố phải hứng chịu những rủi ro từ nước (mưa, bão, lũ, lụt và thuỷ triều). Mặc dù vậy, trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, tình trạng ngập, úng mới chỉ xuất hiện trầm trọng kể từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, thời kỳ tái thiết sau chiến tranh.HCM đã và đang phải đối mặt với thực trạng úng, ngập hàng năm. Nhiều khu dân cư mới, các khu công nghiệp kèm theo hạ tầng cơ sở kỹ thuật được mọc lên, bề mặt bê tông thay thế cho thảm thực vật thẩm thấu, hệ thống kênh, mương là trục tiêu, thoát nước cùng các ao, hồ, đầm, đìa, bãi thuỷ triều chứa nước bị san lấp. Trong khi đó lượng mưa hàng năm và mực nước triều cường có xu hướng tăng lên.
Hệ thống hạ tầng tiêu, thoát nước không đáp ứng nhu cầu. Đó là những nguyên nhân chính gây hiệu ứng ngập nước ở nhiều khu dân cư khi mưa lớn, triều cường và khi cả hai tác nhân này kết hợp lại. Mặc dù được Thành phố đầu tư nhiều dự án chống ngập, nhưng hiệu quả chưa tương xứng. Tình trạng NNĐT những năm gần đây (2013-2015) vẫn diễn biến phức tạp.
Điển hình là trận mưa đầu mùa ngày 16/5/2016, với lượng mưa khoảng 50mm cũng đã gây ra nhiều điểm ngập trong các quận, như đường Nguyễn Xí, Ung Văn Khiêm, Phạm Văn Đồng (quận Bình Thạnh), đường Linh Trung Đông, Kha Vạn Cân, số 20 (quận Thủ Đức), Xa lộ Hà Nội, đường Quốc Hương (quận 2), Đỗ Xuân Hợp (quận 9)… Trận mưa chiều tối ngày 26/8/2016 với lượng mưa đạt 159mm, kéo dài khoảng 180 phút, đã gây ngập gần như toàn Thành phố khiến nhiều nơi địa hình cao như sân bay Tân Sơn Nhất, đường Phan Xích Long (Phú Nhuận) và tất cả những vị trí thường xuyên và tái ngập trên đây lại diễn ra với mức độ trầm trọng về chiều sâu, thời gian và số điểm ngập. Thực trạng ngập, úng cho thấy rõ ràng các giải pháp chống ngập hiện nay vẫn còn những tồn tại, bất cập, cần phải bổ sung, khắc phục và điều chỉnh. Các nghiên cứu quy hoạch chống ngập trước đây (JICA, QH.1547, Haskoning) đa phần tập trung vào giải pháp công trình là chủ yếu nhằm để ngăn 5 triều và tiêu thoát nước mưa, nước thải mà thiếu những nghiên cứu về cảnh báo thiên tai, hiểm hoạ lũ, lụt có thể xảy ra do tác động của dòng chảy lũ sông Mê Công đối với TP. Khi đó lượng nước lũ từ lưu vực sông Mê Công đổ về theo hai hướng: từ sông Tiền chảy sang sông Vàm Cỏ và từ Campuchia đổ xuống sông Vàm Cỏ Đông nối liền mạng lưới kênh rạch của TP.