Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần 1.
Doanh nghiệp nhà nước a) Khái niệm Trong những năm trước đổi mới (1954 – 1985), Việt Nam áp dụng mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong đó đặc biệt đề cao vai trò của kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Tương thích với mô hình đó, có khái niệm về các xí nghiệp quốc doanh, nông trường quốc doanh, công ty quốc doanh, mậu dịch quốc doanh được hiểu là những tổ chức do Nhà nước trực tiếp đầu tư vốn 100%, quyết định thành lập, quyết định phương hướng hoạt động, quyết định bộ máy quản lý và tuyển dụng lao động theo chế độ biên chế ổn định. Doanh nghiệp quốc doanh thường được đồng nhất với thành phần kinh tế quốc doanh – bộ phận chủ yếu được coi là giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kiểu kế hoạch hóa tập trung. Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh và các tổ chức khác của Nhà nước đều là những cán bộ công nhân viên chức trong biên chế, ít có sự phân biệt về quyền lợi, chế độ phân phối và đãi ngộ.
Trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam từng bước được điều chỉnh và hoàn thiện qua các văn bản pháp luật đặc biệt là Luật doanh nghiệp qua các thời kỳ. Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. 8 Năm 2014 Quốc hội ban hành Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, tại khoản 8 Điều 4 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” [24]. Tiếp tục trong Luật Doanh nghiệp năm 2020, khái niệm về doanh nghiệp nhà nước cũng được nhấn mạnh một lần nữa.
Như vậy, về khái niệm doanh nghiệp nhà nước trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có sự khác biệt. Bên cạnh đó, tại Điều 88, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quy định Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm 02 loại hình: - Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; - Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên. Có thể hiểu, doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%). Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%.
b) Đặc điểm Một là, Nhà nước giữ quyền chi phối DN thông qua đầu tư vốn vào DN. Tỷ trọng đầu tư nhà nước có thể khác nhau trong các DN khác nhau, nhưng điểm chung là đủ để cho phép Nhà nước giữ quyền chi phối đối với hoạt động của DN. Hai là, DNNN hoạt động tự chủ theo chế độ phân cấp và ủy quyền quản lý của Nhà nước, trong đó Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về nghĩa vụ tài chính của DN trong khuôn khổ số vốn đầu tư vào DN. Ba là, Về mặt pháp lý DNNN hoạt động trong môi trường cạnh tranh bình đẳng với các DN khác.
Bốn là, Mặc dù hoạt động kinh doanh tự chủ nhưng DNNN đương nhiên phải thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao. 9 c) Vai trò Thứ nhất, DNNN có vai trò chi phối các lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Thứ hai, DNNN là động lực cho sự phát triển của các doanh nghiệp khác thông qua hiệu quả hoạt động cao trên nền của sản xuất hiện đại và hệ thống quản lý tiên tiến. Thứ ba, DNNN là nguồn lực vật chất chủ yếu của nhà nước.
DNNN phải tạo ra sự đóng góp quyết định của NSNN. Thứ tư, DNNN là mẫu mực trong việc giải quyết các vấn đề chính sách xã hội như giải quyết việc làm, trợ cấp xã hội. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp ra đời từ thế kỷ XVI ở các nước có nền kinh tế phát triển. Đến nay đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm.
Công ty cổ phần là một kiểu doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường và cùng song song tồn tại với nhiều loại hình doanh nghiệp khác. a) Khái niệm Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển bởi sự góp vốn của nhiều cổ đông, số vốn do tất cả các thành viên góp vào và ghi vào điều lệ công ty được gọi là vốn điều lệ, Công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn điều lệ. Vốn điều lệ được chia thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần là một cổ phiếu.
Pháp nhân hoặc cá nhân sở hữu một hay nhiều cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số cổ phần của mình và cổ đông được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình thông qua việc mua, bán cổ phiếu.[24] Ở nước ta, theo Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13, ngày 26/11/2014 thì: Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: 10 - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ Cổ đông sở hữu cổ phần biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập chỉ được chuyển nhượng sau thời hạn 3 năm kể từ khi ngày Công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán; - Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tại Điều 110, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Công ty cổ phần được quy định như sau: 1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của Luật này.
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn. 11 b) Đặc điểm - Về mặt pháp lý: Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều người đóng góp. Các cổ đông, người góp vốn cho công ty chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của mình, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm các khoản nợ của công ty trong phạm vi số tiền mà họ bỏ ra.
Trong trường hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền đã đầu tư vào công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn như hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung vốn. Điều này cho phép Công ty có cơ sở pháp lý đầy đủ để huy động những lượng vốn nằm rải rác thuộc nhiều tổ chức và cá nhân trong xã hội. - Về mặt huy động vốn: Về điểm này, Công ty cổ phần đã giải quyết hết sức thành công. Bởi vì số tiền nhỏ của nhiều gia đình, các nhân.
Nếu để riêng thì không đủ thành lập một doanh nghiệp nhỏ, và do đó không thể đem ra kinh doanh được. Công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho họ có cơ hội đầu tư một cách có lợi và an toàn những khoản vốn đó, do: + Việc mua cổ phiếu không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng và cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông một khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi công ty làm ăn có hiệu quả. + Các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ công ty và được pháp luật đảm bảo, điều này làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể và có sức hẫp dẫn hơn. + Cổ đông có quyền được ưu đãi trong việc mua những cổ phiếu mới phát hành của công ty trước khi đem bán rộng rãi cho công chúng.
c) Vai trò của Công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường 12 Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị trường, có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường, cụ thể: - Do quan hệ sở hữu trong công ty cổ phần là thuộc về các cổ đông nên quy mô sản xuất có khả năng được mở rộng to lớn và nhanh chóng, mà không cá nhân riêng lẻ nào có thể thực hiện được, bởi vì kiểu tích tụ dựa vào cá nhân riêng lẻ sẽ khó khăn và thực hiện chậm, còn tập trung tích tụ theo kiểu như công ty cổ phần bằng cách thu hút được các nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tư và của quảng đại quần chúng, lại cho phép tăng quy mô lên rất nhanh. Mác đã đánh giá vai trò này của Công ty cổ phần như sau: " Nếu cứ phải đợi cho đến khi tích luỹ làm cho một số nhà tư bản riêng lẻ lớn đến mức có thể đảm đương việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế giới vẫn chưa có đường sắt.