CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG GIỜ TRUYỆN KỂ. SƠ THẢO VỀ BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN Ở TIỂU HỌC:. Kể chuyện là một hoạt động giao tiếp ngôn ngữ:. Kể chuyện là sử dụng ngôn ngữ theo hình thức đơn thoại:.
Kể chuyện là sáng tạo một văn bản mới (spoken text) từ một văn bản viết (written text). Kể chuyện là quá trình chuyển hóa nghĩa thành ý vào trong bản thân học sinh:. Vai trò chủ thể người kể chuyện của học sinh:. HAI GIAI ĐOẠN CỦA CƠ CHẾ TÂM LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ CỦA HỌC SINH TRONG TIẾT TRUYỆN KỂ:.
Giai đoạn nhớ ý và nắm ý:. Giai đoạn diễn ý:. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ MẶT VĂN HỌC CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ Ở GIỜ TRUYỆN KỂ:. Cảm thụ thẩm mỹ nói chung:.
Những đặc điểm cảm thụ thẩm mỹ của học sinh lứa tuổi tiểu học:. 61 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CỦA HỌC SINH. PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN LÀ GÌ ?. Phương pháp dạy học nói chung:.
Phương pháp dạy học trong mối liên hệ với cơ chế dạy học:. Phương pháp hướng dẫn hoạt động kể chuyện của học sinh:. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐỂ CHUYỂN CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP NGÔN NGỮ TRONG TIẾT TRUYỆN KỂ THÀNH TIẾN TRÌNH HƯỚNG DẪN HỌC SINH KỂ CHUYỆN:. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ:.
Rèn kỹ năng kể chuyện:. Những quy tắc cần thực hiện khi rèn kỹ năng kể chuyện theo tiến trình chung:. Tiến trình chung:. 75 Chương 3: BA BÀI DẠY ỨNG DỤNG.
BÀI 1: TRUYỆN KỂ “HAI TIẾNG KỲ LẠ” (LỚP BA):. Giáo viên kể tóm tắt và đặt câu hỏi định hướng – Học sinh thực hiện hành động hướng tâm:. BÀI 2: QUAN ÁN XỬ KIỆN (LỚP 4). Giáo viên kể toam tắt và đặt câu hỏi định hướng-Học sinh thực hiện hành động hướng tâm:.
BÀI 3: CHIM KHÁCH VÀ QUẠ (LỚP 5). Giáo viên tóm tắt truyện và nêu câu hỏi định hướng. Học sinh thể hiện hành động hướng tâm:. 88 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Khả năng to lớn của môn kể chuyện và thực tiễn giảng dạy bộ môn này: 1. Khả năng của môn kể chuyện Môn kể chuyện có từ lớp Một đến lớp Năm, mỗi tuần một tiết, mỗi năm 33 tiết, cả toàn cấp là 16. Tuy không chiếm số lượng lớn trong toàn chương trình tiểu học, nhưng môn kể chuyên có một ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp đào tạo và phát triển tâm hồn và trí tuệ của trẻ.
Trước hết, bỏi vì môn kể chuyện thỏa mãn nhu cầu thích nghe kể chuyện, thích đọc truyện của tuổi thơ. Kể chuyện là loại bài học thực hành có quan hệ với cả Tiếng Việt và văn học. Về mặt văn học, nghệ thuật, bài kể chuyện không phải là một hệ thống các khái niệm hoa học, một hệ thống các thao tác kĩ năng như các bài học tiếng Việt khác. Bài kể chuyện là một văn bản nghệ thuật.
Học giờ kể chuyện, là học sinh đọc và nghe để chứng kiến những cảnh đời, những số phận của nhân vật diễn ra qua chuỗi sự kiện trong truyện. Các em đọc và nhìn thấy tất cả những gì mình đọc. Đó là sự thể hiện của hoạt động cảm thụ nghệ thuật bao gồm những hành động liên tưởng, tưởng tượng, hành động của tri giác và tư duy để ghi nhớ, để hệ thống hóa, để phán đoán và suy luận. Về mặt ngôn ngữ, bài kể chuyện mang những đặc trưng rõ nét của một bài tập thực hành sinh động, một bài tập làm văn nói (spoken text ) mà hình thức ngôn ngữ chủ yếu là đơn thoại.
Khi thực hành kể chuyện, các em phải vân dụng tổng hợp vốn hiểu biết về ngữ pháp, từ vựng, về đời sống, các kỹ năng nghe, đọc, nói tiếng Việt để tạo ra văn bản mới. Có thể nói giờ kể chuyện là một giờ điển hình cho hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của học sinh bậc tiểu học từ một văn bản ngôn ngữ viết có tính nghệ thuật. Chúng ta biết trong đời sống, giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thường xuyên có vai trò trọng yếu. Ngôn ngữ nói có tính trực tiếp, sinh động nhưng bất định.
Ngôn ngữ viết ra đời từ ngôn ngữ nói, xuất hiện sau ngôn ngữ nói, có tác dụng điều chỉnh, điều tiết ngôn ngữ nói. Nhờ chữ viết, ngôn ngữ nói tự phát trở thành ngôn ngữ tự giác, ngôn ngữ tự nhiên trở thành ngôn ngữ văn hóa. Đó là mối quan hệ vừa khái quát, vừa cụ thể giữa hoạt động ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ của con ngttời. Chính ở đây, môn kể chuyện đã là một sự vận dụng tuyệt vời mối quan hệ ấy để thực hiện nhiệm 7 vụ quan trọng của bậc tiểu học là trau đồi tiếng mẹ đẻ và hình thành nhân cách cho học sinh.
Các truyện kể với tư cách là ngôn bản viết vừa là nội dung, vừa là phương tiện để nhờ đó học sinh rèn kỹ năng nói ngôn ngữ văn hóa của dân tộc. Vài nét về thực tiễn dạy học môn kể chuyện: Do những đặc trưng trên, môn kể chuyện có một tác dụng rất to lớn trong việc phát triển khả năng sử dụng tiếng Việt văn hóa, và nầng cao năng lực trí tuệ và năng lực thẩm mỹ của học sinh tiểu học. Những khả năng này đã được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ phải đạt được như sau : Ở lớp Một và Hai, học sinh biết kể lại một đoạn văn ngắn trong truyện đã học; ở lớp Ba và Bốn học sinh biết kể lại rõ ràng và tương đối mạch lạc các truyện đã học hoặc đã nghe với dáng điệu tự nhiên; ở lớp Năm học sinh biết kể lại mạch lạc, rõ ràng và ấpdẫn các truyện đã học được hoặc đã nghe1. “Điều cốt yếu và cũng là mục đích cụ thể của từng giờ kể chuyện là học sinh nhớ ý, nắm ý và tập diễn đạt các ý đó bằng lời của mình”2.
Song trong thực tế giảng dạy, môn kể chuyện dường như khó thể đạt được mục đích của mình, đặc biệt là giúp học sinh nhớ ý , nắm ý và diễn đạt các ý đó bằng lời của mình, về vấn đề này theo chúng tôi có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng: Một là do các tài liệu hướng dẫn về phương pháp giảng dạy môn kể chuyện thường chỉ chú trọng trình bày cụ thể các công việc làm của người giáo viên với tư cách là người kể chuyện trong giờ học chứ không nêu được hệ thống những công việc cũng như các dạng bài tập cần thiết mà người giáo viên với tư cách là ngườỉ hướng dẫn học sinh kể chuyện. Trong khi học sinh luôn được nhìn nhận là chủ thể trong dạy học và “ yếu tố chi phối mọi tình huống và hành động giáo dục chính là người học”3. Hai là, do sự nhận thức chưa thỏa đáng về vai trò to lớn của môn kể chuyện trong sự nghiệp đào tạo học sinh tiểu học của những người thực hiện quản lý cũng như giảng dạy. Ở nhiều trường chúng ta có thể thấy hiện tượng xem giờ kể chuyện chỉ là một giờ giải trí đơn thuần, dùng để lấp chỗ trống của chương trình.
Giáo viên có thể sử đụng giờ này thay thế cho các môn học tiếng Việt hay Toán. Giáo viên có thể tiến hành giờ học này một cách qua loa bằng cách giới thiệu rồi đọc hay kể chuyện cho học sinh nghe, sau đó hỏi học sinh dăm ba điều bằng cách dựa vào cầu 1 Nguyễn Trí- Lê Phương Nga-Thanh Thị Yến Mỹ. Phương pháp dạy học tiếng Việt tập 2 BGD và ĐT - Vụ Giáoviên Hà Nội, 1992. 2 Những điểm mới về nội dung và phương pháp dạy học ở tiểu học tập 1 - NXB GD - Vụ Giáo viên - Hà Nội, 1994 3 Nguyễn Ký.
Phương pháp giáo dục tích cực - NXB GD, 1994. Những giờ nghiêm túc hơn thì giáo viên chuẩn bị kể chuyện đơn phương một cách thật hấp dẫn, rồi đặt một số câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời, giúp học sinh ghi nhớ diễn tiến truyện, hay khơi gợi sự cảm thụ cá nhân của các em. Sau đó cho một, hai em khá giỏi (thường là đặn trước) kể lại truyện. Tóm lại, là một sự thực hiện không đồng bộ và thiếu một cơ sở lý thuyết hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh - nói cách khác là hoạt động kể chuyện - trong tiết truyện kể.
Tìm hiểu môn kể chuyện trong trường tiểu học và đi tìm nguyên nhân của những cái mà trường tiểu học chưa đạt được trong môn học này, chúng tôi muốn đi tìm giải pháp cho nó. Đây chính là một trong những lý do đầu tiên có ý nghĩa thực liễn thôi thúc chúng tôi đi vào việc tìm hiểu việc dạy và học môn học này. Cơ chế hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của học sinh trong giờ kể chuyện giúp tìm ra bản chất của hoạt động chủ yếu nhất của tiết truyện kể: 1. Giá trị của việc tìm hiểu cơ chế: Diễn tả cơ chế là diễn tả cấu trúc của một đối tượng đang trong quá trình hoạt động của nó.
Điều này cho phép người nghiên cứu, nếu tiếp cận trên nhiều bình diện khoa học khác nhau và hợp lý, có thể tìm ra một phương thức hoạt động phù hợp với đối tượng. Trong dạy học, việc tìm hiểu cơ chế hoạt động học tập của học sinh giúp các nhà sư phạm từng bước tìm được những phương thức, phương pháp giảng dạy hiệu qủa hơn, sát với yêu cầu phát triển nội tại củaa học sinh hơn. Tiếp cận theo quan điểm tổng hợp lấy ngữ dụng học làm điểm xuất phát và chủ yếu: Để tiến hành nghiên cứu về cơ chế hoạt động học tập của học sinh trong giờ kể chuyện, chúng tôi dựa trên nhiều bình diện khác nhau: văn học, tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm, đặc biệt là ngữ dụng học. Ngữ dụng học là một chi ngành của ngôn ngữ học mới ra đời mấy thập niên gần đây, song theo chúng tôi hiểu, quan điểm xuất phát của nó không có gì xa lạ.
Điểm tựa của ngành nghiên cứu này đó là xem ngôn ngữ như một công cụ giao tiếp của con người trong hoạt động xã hội, cái quan điểm mà mọi nhà ngôn ngữ học dù theo khuynh hướng nào cũng không thể phủ nhận. Tuy nhiên, điểm thuyết phục của chi ngành ngôn ngữ học này đó là nó đặt ngôn ngữ trong chính hoạt động nói năng để tìm ra cái bản thể thực sự của nó.