CHƯƠNG I. CÁC THUẬT NGỮ SỬ DỤNG TRONG ĐỀ ÁN VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ 1.Các thành phần kinh tế Thành phần kinh tế là bộ phận kinh tế của nền kinh tế quốc dân, mà đại biểu của nó là một kết cấu kinh tế đặc biệt dựa trên sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và lực lượng sản xuất tương ứng với nó. Theo quyết định của Đại hôị Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, nền kinh tế của nước ta hồm 5 thành phần, cụ thể: - Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp mà trong đó Nhà nước sở hữu từ 50% vốn điều lệ trở lên. - Kinh tế tư nhân bao gồm các hộ kinh doanh cá thể; tiểu chủ; doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và hai thành viên), công ty hợp danh, công ty cổ phần mà không có sở hữu nhà nước.
- Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các liên doanh, công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần dưới 50%. - Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đó là tập hợp các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài. - Thành phần kinh tế hợp tác dưới dạng các tổ hợp tác hoặc hợp tác xã mà sở hữu là của các thành viên Theo tinh thần Đại hội X, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng là một thành phần kinh tế của đất nước. Đây là điểm mới, không còn phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
Theo đó, luật Đầu tư trong nước và luật Đầu tư nước ngoài cũng đã sửa đổi, chỉ còn một luật chung đó là luật Đầu tư đã được Quốc hội thông qua năm 2005. Đổi mới công nghệ Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình là việc thực hiện được sản phẩm và quy trình mới về mặt công nghệ hay đạt được tiến bộ đáng kể về mặt công nghệ đối với sản phẩm và quy trình. Đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình được thực hiện nếu đổi mới đó đã được đưa ra thị trường (đổi mới sản phẩm) hoặc được sử dụng trong sản xuất (đổi mới quy trình). Nguồn nhân lực KH&CN trực tiếp phục vụ sản xuất, đổi mới công nghệ Khái niệm về nhân lực khoa học và công nghệ được áp dụng rộng rãi trong các nước ASEAN đó là khái niệm do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế đưa ra (OECD).
Theo OECD, nhân lực KH&CN gồm: (i) những người được đào tạo có bằng cấp về lĩnh vực chuyên môn nào đó, (ii) những người không được đào tạo để có bằng cấp chuyên môn, nhưng làm công việc trong lĩnh vực KH&CN tương đương với một bằng cấp nào đó. Áp dụng cách tiếp cận của OECD, nhân lực KH&CN trực tiếp phục vụ sản xuất, đổi mới công nghệ trong phạm vi Đề án này gồm những người được đào tạo có bằng tương đương với CNKT bậc 3 trở lên và đảm nhiệm các công việc trực tiếp sản xuất, trực tiếp nghiên cứu – phát triển tạo ra công nghệ mới, thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ và những người trực tiếp điều hành sản xuất kinh doanh trong các đơn vị kinh tế (trong Đề án này gọi chung là doanh nghiệp) thuộc 5 thành phần kinh tế nêu trên. Phát triển nguồn nhân lực KH&CN trực tiếp phục vụ sản xuất, đổi mới công nghệ Phát triển NNL KH&CN bao gồm đào tạo, phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả. Trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực KH&CN trực tiếp phục vụ sản xuất, đổi mới công nghệ trong Vùng ĐNB và KTTĐPN đề cập trong Đề án này là đào tạo đội ngũ trung cấp nghề (công nhân tay nghề từ bậc 3) trở lên để cung cấp cho doanh nghiệp trong Vùng về lao động kỹ thuật; lao động quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh; lao động nghiên cứu, triển khai, và sản xuất thử nghiệm; lao động dịch vụ chuyển giao công nghệ đáp ứng yêu cầu sản xuất và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, thông qua: - Thành lập hoặc nâng cấp các cơ sở đào tạo dài hạn; - Hợp tác với các tổ chức khác để đào tạo; - Dành kinh phí để cử người đi đào tạo.
Hạ tầng KH&CN trực tiếp phục vụ đổi mới công nghệ Hạ tầng KH&CN là một phạm trù rộng. Theo cách hiểu và vận dụng của UNESCO và nhiều tổ chức quốc tế, hạ tầng KH&CN là một bộ phận của hệ thống KH&CN gồm hệ thống các đơn vị, tổ chức, cơ sở, chương trình, hoạt động mà về bản 12 Báo cáo tổng hợp chất là tiến hành hoạt động liên quan đến nghiên cứu và triển khai và góp phần tạo ra, phổ biến và áp dụng tri thức khoa học và kỹ thuật. Các tổ chức bao gồm: - Các tổ chức nghiên cứu và phát triển ; - Các tổ chức chuyên về tiêu chuẩn, thử nghiệm và đo lường; - Các tổ chức hỗ trợ (khuyến nông/công); - Các tổ chức chuyển giao công nghệ, thu thập thông tin; - Các cơ quan bảo hộ SHTT; - Các tổ chức đào tạo kỹ thuật và nghề. Các hoạt động bao gồm: - Nghiên cứu và phát triển: các hoạt động nhằm hướng vào các đổi mới để mở rộng cơ sở tri thức và thử nghiệm để xác định các đổi mới đó.
- Giáo dục và đào tạo ở cấp sau trung học phổ thông nhằm phát triển nguồn nhân lực. - Tạo ra thông tin: tất cả các hoạt động tập trung vào việc thu thập, phổ biến dữ liệu và thông tin hỗ trợ cho nghiên cứu và phát triển hoặc vào việc duy trì hàng hoá công và/hoặc quốc gia. - Phát triển tri thức : Tất cả các hoạt động sử dụng tri thức đã được tạo ra để chuyển giao tri thức hoặc áp dụng các kết quả nghiên cứu vào hàng hoá công và/hay hàng hoá quốc gia. - Tiêu chuẩn và hướng dẫn : xây dựng các chính sách, tiêu chuẩn và hướng dẫn dựa trên các kết quả nghiên cứu để làm lợi cho công chúng.
- Tất cả các hoạt động nhằm cấp patent hay licence cho các kết quả nghiên cứu khoa học và/hay sản phẩm và dịch vụ. Hạ tầng KH&CN trực tiếp phục vụ đổi mới công nghệ đề cập trong phạm vi Đề án này, theo tinh thần của Quyết định số 123/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện Nghị quyết số 53, là một bộ phận của hạ tầng KH&CN có tác động trực tíêp đến đổi mới công nghệ, bao gồm tổ chức và hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ; tổ chức và hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ; tổ chức và hoạt động kiểm định chất 13 Báo cáo tổng hợp lượng sản phẩm và tổ chức đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ cho sản xuất và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong Vùng. Đây là những nhân tố hết sức quan trọng, có ý nghĩa đặc hiệt đổi với đổi mới công nghệ cần được khuyến khích phát triển. Điều này cũng là chủ trương của Đảng đã được khẳng định tại Đại hội X là « đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế »8.
Thứ nữa, đây là những vấn đề mà thực tế hoạt động của doanh nghiệp trong Vùng thấy cần thiết phải được tăng cường và quan tâm từ phía Nhà nước, từ phía xã hội, bởi để thành lập các tổ chức này, đòi hỏi đầu tư lớn, thu hồi lâu. Nếu không có khuyến khích thỏa đáng, khó có thể tạo ra bước chuyển lớn về đổi mới công nghệ trong thực tế. Phát triển hạ tầng KH&CN trực tiếp phục vụ đổi mới công nghệ Phát triển hạ tầng KH&CN là quá trình xây dựng, mở rộng các cơ sở hạ tầng KH&CN và nâng cao chất lượng hoạt động của chúng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ. Trong phạm vi Đề án này, việc khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển hạ tầng KH&CN tập trung vào xây dựng, mở rộng nâng cấp các cơ sở hạ tầng dưới các hình thức sau đây: - Xây dựng trạm/trại nghiên cứu, thực nghiệm, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ với chức năng chính là tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai phục vụ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; - Hợp tác, liên doanh liên kết với các tổ chức khác đầu tư xây dựng trạm/trại nghiên cứu, thực nghiệm, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, viện nghiên cứu, khu công nghệ cao, công viên khoa học, vườn ươm công nghệ với chức năng chính là tiến hành các hoạt động nghiên cứu và triển khai phục vụ đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. 14 Báo cáo tổng hợp CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ HẠ TẦNG KH&CN TRONG VÙNG ĐNB VÀ VÙNG KTTĐPN 2.
Yêu cầu đổi mới công nghệ trong Vùng và bất cập từ phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng KH&CN Đổi mới công nghệ là một yêu cầu tất yếu của các doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay. Nếu không sớm đổi mới sẽ không nâng cao tính cạnh tranh và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng cũng như phát huy vai trò vùng động lực. Kết quả điều tra nhanh của Đề tài “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch phát triển KH&CN tại các vùng trọng điểm” tiến hành tại các tỉnh thuộc vùng KTTĐ phía Nam tháng 12/2006, cho thấy trình độ công nghệ một số ngành sản xuất chính ở Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương được đánh giá cao hơn, có một số ngành đạt trình độ khá và tiên tiến. Trình độ sản xuất ở hầu hết các nơi thuộc 5 tỉnh còn lại được đánh giá là trung bình trở xuống9.
Ngay tại TP Hồ Chí Minh chỉ có 15-20% doanh nghiệp có công nghệ thích hợp, sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước; khoảng trên 40% doanh nghiệp có thiết bị lạc hậu, công nghệ thấp, thâm dụng lao động và nguyên, nhiên vật liệu, nhưng sản phẩm làm ra lại có nhu cầu trên thị trường, cần được đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ; khoảng 40 - 45% doanh nghiệp còn tận dụng thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, chất lượng sản phẩm kém, không phù hợp nhu cầu thị trường, cần phải di dời hoặc giải thể. Đa số các dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn Tp.HCM đều có trình độ công nghệ cao hơn mức công nghệ bình quân chung cả nước.