Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU VÀ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU 1.1 Nhãn hiệu và khái quát quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1.1 Khái niệm về nhãn hiệu Thuật ngữ nhãn hiệu “brand” xuất phát từ người Aixơlen cổ đại với nghĩa là đốt cháy “to burn”. Theo một số nghiên cứu cho thấy, từ thời xa xưa con người đã biết sử dụng nhãn hiệu để nhận biết nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa, dịch vụ. Đối với gia súc, người chăn nuôi gia súc khi trao đổi, mua bán gia súc của mình với người khác đã dùng biện pháp đánh dấu thông qua các vết cắt, xiên lỗ trên tai các con gia súc. Đối với các đồ thủ công mỹ nghệ như đồ gốm sứ, tơ lụa, gia thú con người đã biết dùng chữ ký hoặc biểu tượng để phân biệt sản phẩm do họ làm ra với sản phẩm của người khác.
Trải qua các cuộc cách mạng công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa, dịch vụ có nhiều bước phát triển vượt bậc. Khi hàng hóa được tạo ra ngày càng nhiều, dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng thì nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu để nhận biết cũng như phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể sản xuất kinh doanh khác nhau. Các sản phẩm cùng loại do các chủ thể khác nhau sản xuất ra đều có nhãn hiệu khác nhau. Chính vì thế, thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng có thể nhận biết và lựa chọn tiêu thụ các sản phẩm có nhãn hiệu mà mình ưa dùng hoặc muốn mua mà không sợ bị nhầm lẫn và mất nhiều thời gian.
Hiện nay, nhãn hiệu chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong hoạt động thương mại, nó không chỉ là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt như đã nói ở trên mà nó còn có giá trị kinh tế và trở thành tài sản vô hình quý giá của chủ thể sản xuất kinh doanh, đôi khi giá trị kinh tế mà nhãn hiệu mang lại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn lớn hơn rất nhiều so với các tài sản hữu hình khác. Chính vì vậy, nhãn hiệu có thể được mua bán hoặc có thể cho thuê quyền sử dụng. Về khái niệm nhãn hiệu hiện có rất nhiều cách hiểu khác nhau về nhãn hiệu. Dưới góc độ luật pháp quốc tế, trước đây Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp không đưa ra khái niệm nhãn hiệu là gì.
Việc không đưa ra khái niệm cụ thể về nhãn hiệu là do muốn tạo điều kiện để các nước thành viên Công ước tự đưa ra những khái niệm về nhãn hiệu cho phù hợp với đặc điểm của nước mình. Tuy nhiên, đến khi Hiệp định TRIPS 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ ra đời thì khái niệm nhãn hiệu đã được định rõ.1 hiệp định TRIPS, khái niệm nhãn hiệu hàng hóa được quy định như sau: “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu hàng hóa. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình họa và tổ hợp các sắc màu cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa”. Có thể thấy khái niệm nhãn hiệu hàng hóa trong hiệp định TRIPS được quy định một cách khái quát, việc xác định một đối tượng bất kỳ có phải là nhãn hiệu hàng hóa hay không sẽ căn cứ vào mục đích sử dụng và “bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa này với hàng hóa khác” thì đều có thể xem là yếu tố cấu thành của một nhãn hiệu hàng hóa.
Còn dưới góc độ pháp luật trong nước, trước đây, theo quy định tại Điều 785 Bộ Luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1995 thì: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”. Nhưng đến Bộ luật Dân sự 2005 thì 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lại không có quy định như thế nào là nhãn hiệu mà chỉ quy định nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (Điều 750). Hiện nay, khái niệm nhãn hiệu được quy định cụ thể tại Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 (sau đây gọi tắt là Luật sở hữu trí tuệ), điều đặc biệt là Luật Sở hữu trí tuệ không có quy định về nhãn hiệu hàng hóa riêng và nhãn hiệu dịch vụ riêng mà chỉ đưa ra một khái niệm nhãn hiệu dùng chung cho cả hai loại đó.
Theo đó nhãn hiệu được hiểu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Dấu hiệu được nhắc đến trong khái niệm này phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới các dạng như: chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc. Mặt khác, các dấu hiệu này còn phải có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Tuy nhiên, các nước khác nhau lại định nghĩa về nhãn hiệu có phần khác nhau.
Theo quy định tại Điều L711-1 Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp, thì “nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ là các dấu hiệu có thể thể hiện được dưới dạng chữ viết dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ của một thể nhân, pháp nhân. Dấu hiệu quy định tại đoạn trên chủ yếu bao gồm: a. Tên gọi được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào như: Từ, tập hợp từ, tên người, tên địa lý, biệt hiệu, bút danh, chữ cái, chữ số, chữ viết tắt; b. Dấu hiệu âm thanh như: âm thanh, lời nhạc; c.
Dấu hiệu hình ảnh như: hình vẽ, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, hình nổi, ảnh chụp giao thoa laze, biểu tượng, hình ảnh tổng hợp, hình thức, đặc biệt là hình thức sản phẩm, hình thức bao bì sản phẩm, hình thức đặc trưng của dịch vụ, cách bố trí kết hợp màu sắc, sắc thái màu". Về cơ bản, khái niệm nhãn hiệu theo quy định của Pháp cũng được 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com định nghĩa theo mục đích sử dụng: là các dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm dịch vụ của thể nhân và pháp nhân, bên cạnh đó đã liệt kê một cách cụ thể các loại dấu hiệu được sử dụng làm nhãn hiệu và phạm vi các dấu hiệu mở rộng hơn rất nhiều so với quy định của Việt Nam. Nhiều dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh đã được bảo hộ tại Pháp mà Việt Nam chưa quy định như biệt hiệu, bút danh, chữ viết tắt, nhãn sản phẩm, con dấu, đường viền, ảnh chụp giao thoa laze, hình thức bao bì sản phẩm, hình thức đặc trưng của dịch vụ và ngoài các loại dấu hiệu thông thường như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc thì dấu hiệu âm thanh cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu. Tuy nhiên, luật của Pháp quy định rất chặt chẽ là các dấu hiệu này phải có khả năng thể hiện được dưới dạng chữ viết "graphisme" nghĩa là phải thể hiện được trên giấy - phải có khả năng nhìn thấy được, kể cả với dấu hiệu âm thanh.
Nhãn hiệu âm thanh phải được thể hiện thành nốt nhạc và tiết tấu nhạc trên giấy và bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là bảo hộ giai điệu nhạc gắn lên hàng hoá dịch vụ thông qua những nốt nhạc mà người nộp đơn thể hiện trên giấy. [6, 13] Các dấu hiệu như âm thanh cũng như một số dấu hiệu từ ngữ và hình ảnh được sử dụng làm nhãn hiệu theo quy định của Pháp chưa được quy định trong pháp luật hiện hành của Việt Nam nhưng cùng với việc tiếp cận và giao lưu với những hệ thống pháp luật tiên tiến trong quá trình hội nhập, khái niệm về nhãn hiệu của Việt Nam đã được hoàn thiện và gần với chuẩn mực quốc tế hơn, điển hình là khái niệm nhãn hiệu quy định trong Hiệp định thương mại (HĐTM) Việt Nam – Hoa Kỳ tại khoản 1 Điều 6: “Nhãn hiệu hàng hóa được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người với hàng hóa hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình ảnh, chữ cái, chữ số, tổ hợp mầu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hóa hoặc hình dạng của bao bì hàng hóa. Nhãn hiệu hàng hóa bao 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gồm cả nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận”. Có thể thấy, khái niệm nhãn hiệu trong HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ đã có sự mở rộng hơn về phạm vi các yếu tố có thể được đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam trong thời gian tới.
Còn đối với Cộng đồng Châu Âu nói chung, do số lượng các quốc gia thành viên tương đối nhiều và mỗi nước đều có những nét đặc thù riêng biệt nên pháp luật về nhãn hiệu của các quốc gia thành viên cũng khác nhau. Do đó, nếu muốn bảo vệ lợi ích chung của khối, Cộng đồng Châu Âu nhất thiết phải có những bước điều chỉnh, định hướng chung cho các quốc gia thành viên. Chỉ thị 89/104/EEEC3 và Quy định 40/944 của Cộng đồng Châu Âu được xem là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu ở cấp độ cộng đồng, được áp dụng chung thống nhất trên toàn Châu Âu. Mục đích của những quy định này là nhằm đảm bảo điều kiện đăng ký nhãn hiệu hài hòa ở tất cả các quốc gia thành viên.