MỞ ĐẦU Lignin là một trong hai loại polymer sinh học phổ biến trong cây sau cellulose, chiếm khoảng 30% lượng cacbon hữu cơ trong sinh quyển và gần 35% lượng vật chất khô trong gỗ của các loài thực vật. Quá trình tổng hợp lignin là một trong những cách thức thích nghi của thực vật trong quá trình tiến hóa khi thực vật thay đổi môi trường sống từ nước lên cạn. Lignin giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc thành tế bào và thân. Thêm vào đó lignin tham gia vào quá trình vận chuyển nước, các chất dinh dưỡng thông qua hệ thống bao mạch và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự chắc chắn của cây trong không gian, cũng như bảo vệ cây khỏi các nhân tố gây bệnh.
Hàm lượng lignin cao trong gỗ giúp gỗ bền. Bởi vậy, nó là nguyên liệu thô tốt cho nhiều ứng dụng trong xây dựng, nội thất. Tuy nhiên trong một số lĩnh vực như sản xuất sợi, sản xuất giấy thì hàm lượng lignin cao lại là một trở ngại. Việc phân hủy lignin trong quy trình sản xuất bột gỗ bằng cách xử lý hóa học là một trong những biện pháp tốn kém đối với điều kiện kinh tế và môi trường nước ta hiện nay.
Vậy làm thế nào để điều chỉnh được hàm lượng lignin trong cây trồng làm nhiên liệu, trong xây dựng, trong cây nông nghiệp (cây lúa - chống đổ) hay làm giảm/tăng hàm lượng lignin trong cây bạch đàn nhằm tạo lợi nhuận cho quá trình sản xuất giấy/tạo vật liệu gỗ cho xây dựng, tương ứng. Trong một số ần đây cho thấ EcHB1 vào cây thuốc lá, sau 6 tuần sinh trưởng tại nhà kính cho thấy chiều dài sợi gỗ của các dòng thuốc lá được chuyển gen EcHB1 dài hơn 20% và có sinh trưởng về chiều cao hơn 50% so với đối chứng. Và khi sử dụng kỹ thuật microarray kiểm tra biểu hiện của các gen chính liên quan đến quá trình sinh tổng hợp lignin như CCoAOMT, CAD, CCR và C4H đều giảm ở các dòng bạch đàn chuyển gen EcHB1 (Eucalyptus. urophylla Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.vn/ 2 , tạo nguồn nguyên liệu tốt trong công nghiệp sản xuất giấy.
Hiện nay, công nghệ gen là một trong những giải pháp tạo ra những bước đột phá về năng suất, chất lượng cũng như tính chống chịu với điều kiện bất lợi cho các đối tượng cây trồng nông, ế Agrobacterium tumefaciens. Tuy nhiên, hiệu quả biến nạp gen thông qua Agrobacterium phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nguồn vật liệu dùng để nuôi cấy, thời gian cảm ứng, khả năng xâm nhiễm của vi khuẩn, nồng độ chất chọn lọc, khả năng tái sinh cấy sau biến nạp gen. Xuất phát từ cơ sở khoa học và nhu cầu ứng dụng vào thực tiễn, chúng tôi thực hiện đề tài :"Nghiên cứu quy trình chuyển gen tăng chiều dài sợi gỗ (EcHB1) vào bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla) thông qua Agrobacterium tumefaciens". Mục tiêu của đề tài + Xây dựng quy trình chuyển gen cho bạch đàn urô thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens.
+ Tạo được dòng bạch đàn urô chuyển gen (EcHB1) tăng chiều dài sợi gỗ thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. Nội dung nghiên cứu + Xác định ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng tái sinh của bạch đàn. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.vn/ 3 + Chuyển gen EcHB1vào thân mầm và lá mầm bạch đàn urô thông qua vi khuẩn Agrobacterium tumefaciens. + Phân tích cây bạch đàn urô chuyển gen EcHB1.
urô Eucalyptus urophylla (E. urophylla) thuộc (Myrtales (Myrtaceae (Eucalyptus) (Hình 1. urophylla có phân bố tự nhiên ở một số đảo thuộc phần cực Nam của quần đảo Santo - Indonesia, bao gồm các đảo: Adonara, Alor, Flores, Lomblen, Pantar Timor và Wetar. urophylla xuất hiện theo dải 7o30' - 10o vĩ độ Nam.
Giới hạn phía Đông và phía Tây của vùng phân bố chưa xác định rõ ràng. Hiện nay người ta chấp nhận vùng phân bố của bạch đàn này là từ 122 - 127o kinh Đông. Trong khu vực phân bố, bạch đàn E. urophylla sống từ vùng bán sơn địa tới vùng núi, nhưng cũng thấy có hiện tượng xuất hiện loài này ở vĩ độ thấp.
urophylla là loài có phân bố khá đặc biệt và đáng nhớ nhất về độ cao và nhiệt độ. urophylla có phân bố theo độ cao lớn nhất trong các loài Bạch đàn (79 - 2960 m trên mặt biển). Do thay đổi về độ cao nên biến động về nhiệt độ cũng vì thế mà thay đổi khá lớn. Trên cùng một đảo với khoảng cách không thấy xa nhau mà các quần thụ phải thích nghi với điều kiện nhiệt độ rất khác nhau, từ 27 – 30o trên độ cao 400 m xuống 17 - 21o trên độ cao 1900 m.
Bạch đàn là nhóm cây được trồng rộng rãi ở nước ta (đặc biệt là các tỉnh miền Trung và miền Nam). Đây cũng là cây trồng chủ yếu trên các đường nông thôn, các bờ vùng, bờ thửa ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu và gây trồng nhiều năm qua cho thấy nhiều loài Bạch đàn Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.vn/ 4 được nhập vào nước ta chỉ một số loài sinh trưởng nhanh và có khả năng thích ứng lớn. Trong đó, đáng chú ý là các loài Bạch đàn urô (E.
urophylla), Bạch đàn tero (E. tereticornis) và Bạch đàn caman (E. camaldulensis), Bạch đàn liễu (E. Ở những nơi thấp Bạch đàn E.
urophylla có thể mọc lẫn với bạch đàn E. ô là loài cây gỗ lớn, cao 40-50 m, thân thẳng, màu nâu vàng, vỏ bong thành mảng, sau khi bong thân khá bóng. Cành non rủ xuống. Lá hình ngọn giáo, nhọn dần về phía đầu, dài 15-30 cm, rộng 2-4 cm, màu xanh lục thẫm.
Cụm hoa dạng tán ở nách lá, mang 5-8 hoa. Hoa có cuống nhỏ và ngắn, các cánh đài hợp lại thành nửa hình cầu ở phía dưới, cánh tràng phía trên hợp lại thành nắp nụ hoa hình nón (operculum) và nắp nụ hoa được coi là một đặc điểm phân loại của bạch đàn. Quả hình bán cầu, rộng 0,5-0,7 cm, mở theo 4 van hình tam giác (Hình 1. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.
Dạng hoa và quả của cây bạch đàn 1. Giá trị kinh tế Gỗ bạch đàn có tỷ trọng và độ cứng trung bình, dễ bị cong vênh, được dùng vào xây dựng, trụ mỏ, nguyên liệu sản xuất giấy và đóng đồ dùng thông thường. Với công nghệ chế biến hiện đại, gỗ được dùng làm gỗ xẻ, đóng đồ gỗ xuất khẩu. Cây có tán và thân thẳng, hoa trắng đẹp nên có thể trồng làm cây bóng mát.
Bạch đàn còn dùng để làm ván dăm, gỗ trụ mỏ, gỗ xây dựng và củi đun. Trong công nghệ sản xuất giấy trên thế giới bột giấy có hiệu suất cao chủ yếu được chế tạo bằng các loại gỗ mềm, một phần nhỏ sử dụng các loại gỗ cứng. Nhưng để phù hợp với Việt Nam, các sản phẩm gỗ cứng như cây bạch đàn đỏ (Eucalytus robusta), keo tai tượng (Acacia mangium) đã được đưa vào nghiên cứu để sản xuất bột giấy [54]. Hai loại nguyên liệu này có tỷ lệ lignin thấp (lignin có ảnh hưởng đến độ cứng của gỗ) nhưng chúng ưa khí hậu nóng ẩm, đất tính acid, độ phì cao, thoát nước nên rất khó trong việc trồng để sản xuất.
Trong các loại bạch đàn, có bạch đàn urô phát triển rất nhanh, thích hợp với đất ẩm như Việt Nam nhưng nó lại có lượng lignin cao hơn so với các bạch đàn khác (không thích hợp cho sản xuất giấy) [7]. Do vậy lợi dụng đặc tính phát triển mạnh và khả năng thích nghi, nên việc nghiên cứu đặt ra là làm giảm lượng lignin trong bạch đàn urô để đưa vào sản xuất mang lại hiệu suất và kinh tế cao. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc. Tình hình trồng bạch đàn ở Việt Nam Bạch đàn bao gồm nhiều loài khác nhau và là cây trồng rừng phổ biến trên thế giới.
Ước tính có trên 10 triệu ha bạch đàn được trồng ở châu Á, Nam Mỹ, Nam Âu, Úc và New Zealand. Bạch đàn urô (Eucalyptus urophylla ST. Blake) và Bạch đàn grandis (E. grandis) thuộc chi phụ Symphyomyrtus, họ Sim (Myrtaceae), là những loài cây gỗ lớn, mọc nhanh, được trồng nhiều tại các nước nhiệt đới có nhiệt độ trung bình từ 24 – 28oC.
Tại Việt Nam, bạch đàn được trồng tại các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, Đông Bắc, vùng trung tâm, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên. Gỗ bạch đàn được dùng làm nguyên liệu giấy (hiệu suất bột giấy 49,5%), ván dăm, ván sợi ép, trụ mỏ, gỗ lớn được dùng trong xây dựng, đóng đồ mộc; gỗ nhỏ dùng làm gỗ củi. Tỷ trọng gỗ ở năm 6 tuổi là 488 kg m-3 [42], chiều dài sợi gỗ là 982,4 mm (cho phần gỗ mềm) và 110,46 mm (cho phần gỗ cứng) [35]. Tính đến năm 2001 đã có khoảng 348000 ha bạch đàn được trồng [2].
Bạch đàn urô là một trong những loài bạch đàn chính được trồng chủ yếu ở Việt Nam [18]. Có nhiều nghiên cứu về tỷ trọng gỗ, hàm lượng cellulose, hàm lượng lignin cho bạch đàn urô. Nguyễn Đức Kiên (2009) chỉ ra rằng các tính trạng sinh trưởng và chất lượng gỗ ảnh hưởng lớn đến hiệu suất bột giấy cho ngành công nghiệp. Các nghiên cứu đánh giá về sinh trưởng của bạch đàn urô tại Việt Nam cũng cho thấy tỷ lệ sinh trưởng của bạch đàn tại Việt Nam chậm hơn so với các nước khác như Trung Quốc, Braxin [47], [51], [18].
Vì vậy, các chương trình chọn giống bạch đàn ở Việt Nam tập trung chủ yếu vào tăng sinh trưởng, đặc biệt ở các vùng sinh thái suy thoái, nghèo chất dinh dưỡng, tỷ lệ sinh trưởng của bạch đàn vẫn tồn tại ở dạng sinh trưởng chậm so với nhiều nước khác. Do vậy, các định hướng nghiên cứu làm tăng hiệu suất bột giấy và tăng khả năng sinh trưởng của cây bạch đàn tại các vùng sinh thái Số hóa bởi trung tâm học liệu http://lrc.vn/ 7 suy thoái và nghèo chất dinh dưỡng tại Việt Nam đã và đang được quan tâm nghiên cứu. EcHB1 và chu trình tổng hợp lignin ở thực vật 1. Chu trình sinh tổng hợp lignin ở thực vật 1.
Lignin Lignin được tìm thấy trong hầu hết những cây có mạch. Chúng nằm xen kẽ giữa các tế bào, bên trong tế bào và trong thành tế bào. Lignin có chức năng điều khiển sự vận chuyển các chất trong thực vật (một phần tham gia vào việc giữ vững cho thành tế bào, mặt khác tham gia điều chỉnh sự vận chuyển của chất lỏng), cho phép cây lớn lên và cạnh tranh để giành ánh sáng mặt trời. Trong thiên nhiên, lignin có khả năng chống chịu lại sự thoái hóa và được gắn kết với nhau một cách phức tạp nhờ những liên kết hóa học bền vững.