Lời mở đầu. Chương 2: Tổng quan về ngành sản xuất,chế biến thực phẩm Chương 3: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 4: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Chương 5: Kết quả thực nghiệm và thảo luận. Chương 6: Câu chuyện về trò chơi kinh doanh Chương 7: Kết luận và hàm ý.
Lời cảm ơn: Tiểu luận này được thực hiện trong phạm vi môn học Tổ chức ngành, lớp KTE408.2, được giảng dạy bởi PGS.TS Từ Thúy Anh và TS. Chu Thị Mai Phương. Để thực hiện được tiểu luận này, nhóm đã sử dụng những kiến thức được học trong môn học trên với sự hướng dẫn của hai giảng viên. Vì thế, nhóm muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên.
Tuy nhiên, vì thời gian và kiến thức còn hạn chế, nhóm đã cố gắng hết mình để hoàn thành tiêu luận, song vẫn không tránh khỏi những sai sót nhất định. Rất mong nhận được lời góp ý và nhận xét từ giáo viên hướng dẫn để bài viết được hoàn chỉnh hơn. TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT, CHẾ BIẾN THỰC PHẨM 2. Thực trạng ngành sản xuất, chế biến thực phẩm tại Việt Nam 2.
Tình hình tiêu thụ thực phẩm trên thị trường trong và ngoài nước • Tình hình tiêu thụ thực phẩm ở thị trường nội địa Thống kê cho thấy, trong 8 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 3.679,2 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước. Cùng với đó là sự trở lại của người lao động và sinh viên tại các thành phố trong nền kinh tế bình thường tiếp theo, khuyến khích nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng tiêu dùng nhanh (FMCG), trong đó có thực phẩm – đồ uống. Thứ hai, xu hướng dịch chuyển từ các kênh truyền thống sang hiện đại được định hình bởi giới trẻ, đặc biệt là thế hệ Y và Z. Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report chỉ ra rằng, phần lớn giới trẻ tại các thành phố lớn mua sắm thực phẩm – đồ uống thông qua các kênh hiện đại: siêu thị, đại siêu thị (98%), online (67%) và cửa hàng tiện lợi (41%) (Report, 2023).
Hình 2-1: Tăng trưởng doanh thu theo kênh phân phối Nguồn:Vietnam Report (2023) Tổng chi tiêu hộ gia đình tại Việt Nam có xu hướng tăng trong giai đoạn 2022 - 2025. Người tiêu dùng trong nước sẽ duy trì sức mua mạnh mẽ đối với mặt hàng thiết yếu bao gồm thực phẩm, đồ uống. Mức tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) của ngành dịch vụ ăn 2 uống có thể lên tới 8,5% trong giai đoạn 2022 – 2027 cho thấy tiềm năng thị trường bùng nổ trong giai đoạn “bình thường mới” khi mà trước thời điểm đại dịch, CAGR giai đoạn 2021 - 2025 được dự báo ở mức 4,98%. Xu hướng dịch chuyển các ưu tiên trong thói quen tiêu dùng sang các mặt hàng sản phẩm dinh dưỡng, lành mạnh ngay cả khi giá cả gia tăng.
Thị hiếu của người tiêu dùng hướng đến các sản phẩm ở phân khúc cao cấp với chất lượng cao, dành sự quan tâm rất lớn tới tính tiện dụng (4,4/5), hoặc tính thân thiện với môi trường (4.3/5) bên cạnh những đặc tính cơ bản như đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, in rõ thành phần, hạn sử dụng, nguồn gốc xuất xứ, bao bì đẹp v.v… khi lựa chọn sản phẩm thực phẩm – đồ uống (Vietnam Report, 2023). Hình 2-2: Xu hướng gia tăng tiêu dùng các sản phẩm thực phẩm – đồ uống trong chi tiêu hàng tháng Nguồn: Vietnam Report (2023) • Tình hình tiêu thụ thực phẩm trên thị trường nước ngoài Phân tích dữ liệu FAOSTAT (2023) cho thấy năng lượng chế độ ăn uống được đo bằng kcal bình quân đầu người mỗi ngày đã tăng đều đặn trên cơ sở toàn thế giới; sự sẵn có của calo bình quân đầu người từ giữa những năm 1960 đến cuối những năm 1990 tăng trên toàn cầu khoảng 450 kcal bình quân đầu người mỗi ngày và hơn 600 kcal bình quân 3 đầu người mỗi ngày ở các nước đang phát triển. Thay đổi này là có xảy ra tuy nhiên không bình đẳng giữa các vùng. Nguồn cung cấp calo bình quân đầu người có vẫn gần như trì trệ ở châu Phi cận Sahara và gần đây đã giảm ở các quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế.
Ngược lại, nguồn cung năng lượng bình quân đầu người đã tăng đáng kể ở Đông Á (gần 1000 kcal bình quân đầu người mỗi ngày, chủ yếu ở Trung Quốc) và ở khu vực Cận Đông/Bắc Phi (hơn 700 kcal mỗi đầu người mỗi ngày) (FAOSTAT, 2003). Bảng 2-1: Tiêu thụ thực phẩm bình quân đầu người trên toàn cầu (kcal bình quân đầu người mỗi ngày) Nguồn:World Health Organization (2023) Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng Sản lượng và Năng suất cây trồng của nông nghiệp thế giới đã chậm lại. Điều này đã làm dấy lên lo ngại rằng thế giới có thể không thể trồng đủ lương thực và các mặt hàng khác để đảm bảo an ninh lương thực đủ để cung cấp cho toàn cầu trong tương lai. Tuy nhiên, sự chậm lại đã xảy ra không phải vì thiếu đất hoặc nước mà là do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cũng đã chậm lại.
Điều này chủ yếu là do tốc độ tăng dân số thế giới đã giảm kể từ cuối những năm 1960, và nhiều nước đã đạt được những mức độ tiêu thụ thực phẩm bình quân đầu người khá cao, vượt quá mức tăng thêm sẽ bị hạn chế. Sự thật là một phần không nhỏ của dân số thế giới vẫn còn nghèo đói do đó thiếu thu nhập để chuyển nhu cầu thiết yếu của họ thành nhu cầu hiệu quả. Kết quả là, sự tăng trưởng của nhu cầu đối với các sản phẩm nông nghiệp trên thế giới dự kiến sẽ giảm từ mức trung bình 2,2% mỗi năm trong 30 năm qua lên mức trung bình 1,5%/năm trong 30 năm tiếp theo. Ở các nước đang phát triển, quá trình giảm sút sẽ nghiêm trọng hơn, từ 3,7% mỗi năm đến 2% mỗi năm, một phần là kết quả của việc Trung Quốc 4 đã vượt qua giai đoạn tăng trưởng nhanh chóng nhu cầu về thực phẩm.
Tình trạng thiếu lương thực toàn cầu khó xảy ra, nhưng Các vấn đề nghiêm trọng đã tồn tại ở cấp quốc gia và địa phương, và có thể trở nên tồi tệ hơn trừ khi có những nỗ lực tập trung được thực hiện. Đánh giá chất lượng và năng lượng cạnh tranh của ngành thực phẩm Việt Nam Giá trị sản xuất của Ngành sản xuất chế biến thực phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất (19,1%) trong nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam, thể hiện tầm quan trọng của Ngành trong việc đảm bảo nhu cầu lương thực của người dân cũng như đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Ngoài ra, tỷ trọng giá trị sản xuất cao cho thấy ngành sản xuất, chế biến thực phẩm có nhiều thế mạnh với nhiều thương hiệu lớn, có uy tín, thị trường ổn định và có khả năng cạnh tranh cao so với các doanh nghiệp nước ngoài. Một số ngành sản xuất và chế biến sữa, đồ uống, dầu ăn, bánh kẹo được dự báo có xu hướng ngày càng tăng trưởng cao và trở thành các phân khúc thị trường chế biến năng suất nhất của Việt Nam.
Đặc biệt, sau khi các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam ký kết đi vào hiệu lực, ngành sản xuất chế biến thực phẩm sẽ được mở ra một thị trường tiêu dùng và đầu tư rộng lớn hơn. Theo Bộ Công Thương, tính đến năm 2020, cả nước có trên 7.500 doanh nghiệp chế biến nông sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu, tổng công suất đạt khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu/năm. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm chỉ chiếm gần 1% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng đây lại là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn, có tiềm năng phát triển rất lớn tại Việt Nam, chiếm khoảng hơn 20% doanh thu thuần sản xuất, kinh doanh các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hàng năm. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến và sản xuất rau củ quả chiếm tỷ lệ cao nhất trong cơ cấu doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm, trong khi đó ngành chế biến thủy sản đông lạnh lại là ngành thu hút nhiều lao động nhất.
Do có tiềm năng rất lớn nên thị trường ngành sản xuất, chế biến thực phẩm của Việt Nam có sức hút rất lớn với nhà đầu tư nước ngoài. Có thể kể đến Tập đoàn CJ Cheil Jedang (CJ) của Hàn Quốc. Có mặt tại Việt Nam từ năm 1999 CJ nhận thấy tiềm năng của thị trường thực phẩm Việt Nam nên thời gian gần 5 đây đã thực hiện hàng loạt thương vụ sáp nhập và mua lại các công ty chế biến thực phẩm (M&A) để mở rộng thị phần. Năm 2016, CJ đã mua lại thương hiệu kim chi Ông Kim và chi 300 tỷ đồng mua hơn 4% cổ phần Vissan trong đợt IPO.
Tới năm 2017, CJ tiếp tục thâu tóm Công ty cổ phần Thực phẩm Cầu Tre và đổi tên thành CJ Cầu Tre, đồng thời điều chỉnh bổ sung thêm một số ngành nghề kinh doanh như chế biến rau quả, sản xuất các loại bánh từ bột và thức ăn chế biến sẵn,… Theo đại diện CJ cho biết, trong năm 2017, CJ đã quyết định đầu tư một khu phức hợp thực phẩm với quy mô 1.400 tỷ đồng gồm 3 cơ sở chính là nhà máy sản xuất và gia công thực phẩm, khu nghiên cứu thực phẩm và khu an toàn thực phẩm để áp dụng những tiến bộ về xử lý và kiểm tra an toàn thực phẩm sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới. Đại diện đơn vị này cũng không dấu kỳ vọng tới năm 2020, doanh thu riêng lĩnh vực công nghiệp thực phẩm sẽ là 700 triệu USD với số lượng sản phẩm đa dạng, thành phẩm tốt, an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng, phù hợp khẩu vị người Việt và đưa sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài Một đơn vị khác là PAN Food đã mua 4 công ty chuyên về thực phẩm gồm: Công ty Bibica, Lafooco, Thủy sản 584 Nha Trang, Aquatex Bến Tre để cùng đầu tư, phát triển mảng thực phẩm. Hiện mức doanh thu cả nội địa lẫn xuất khẩu của PAN Food đạt khoảng 90 triệu USD, trong đó có khoảng 45 triệu USD là doanh thu xuất khẩu. Hay Công ty CP Chăn nuôi C.P Việt Nam ngoài nhà máy chế biến thực phẩm đã xây dựng tại một số tỉnh, thành phố, mới đây đã đưa vào hoạt động thêm một nhà máy mới có diện tích 6 ha tại KCN Tân Phú Trung (Củ Chi, TP.
Nhà máy được thiết kế với công suất lên đến 13.200 tấn xúc xích và thực phẩm chế biến mỗi năm.