CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG TỪ CÁC BÊN LIÊN QUAN VÀ ĐẠI DỊCH COVID-19 TỚI VIỆC CHUYỂN ĐỔI SANG NỀN KINH TẾ TUẦN HOÀN ĐỂ HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TUẦN HOÀN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Kinh Tế Tuần Hoàn Theo Guarnieri và cộng sự (2020), Kinh tế tuần hoàn (KTTH) được toàn thế giới công nhận là phương thức kinh doanh mới dựa trên sự phối hợp của toàn bộ chuỗi cung ứng nhằm giảm tác động tiêu cực đến môi trường. KTTH là hệ thống sản xuất và tiêu dùng nhằm mục đích tối đa hóa việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực và lãng phí bằng cách tái chế và tái sử dụng, đồng thời tránh tiêu hao tài nguyên thiên nhiên một cách không cần thiết và tối ưu hóa các quy trình xử lý chất thải thông qua trao đổi các công nghệ tiên tiến (Van Buren và cộng sự, 2016).
Mục đích chính của KTTH là để thay đổi suy nghĩ từ “khai thác, sản xuất và thải bỏ sang vòng tuần hoàn, trong đó “giảm thiểu, tái sử dụng, tái sửa chữa và tái chế” là những nguyên tắc cần được đánh giá cao (Henovese và cộng sự, 2017). Theo cách khác, có thể hiểu mục đích chính của kinh tế tuàn hoàn là duy trì sản phẩm và vật liệu được lưu thông trong thời gian dài nhất có thể (Geissdoerfer và cộng sự, 2017). Bên cạnh đó, khi một sản phẩm hết hạn sử dụng, việc tái sử dụng nó sẽ tiếp tục chuỗi sản xuất và cung ứng trong nền kinh tế đồng thời đi kèm việc sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn (Kirchherr và cộng sự, 2017). Các khái niệm KTTH có nguồn gốc từ sinh thái công nghiệp (Geng & Doberstein, 2008), và việc áp dụng nó đã được đề xuất như một giải pháp thay thế bền vững cho nền kinh tế (Ellen MacArthur Foundation, 2015).
Do đó, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tuyến tính sang nền KTTH đòi hỏi các mô hình mới về tiêu dùng và sản xuất bền vững (Ellen MacArthur Foundation, 2015). Ngoài ra, việc chuyển đổi hướng đến nền KTTH cũng đòi hỏi những thay đổi trong hành vi, văn hóa tổ chức, mô hình kinh doanh, các ưu tiên và chính sách. Không những thế, quá trình chuyển đổi đòi hỏi sự nỗ lực ở các cấp, từ thành phố, tỉnh, quốc gia, các khu 15 sinh thái công nghiệp đến các tổ chức, người tiêu dùng, công dân (Ghisellini và cộng sự, 2016). Việc áp dụng các mô hình kinh doanh KTTH cân được phân tích thông qua những xem xét kĩ lưỡng các môi trường pháp lý và thị trường cũng như mối quan hệ của các bên liên quan, vì các yếu tố này có thể kích hoạt hoặc cản trở các sáng kiến KTTH (Garces Ayerbe và cộng sự, 2019).
Phát Triển Bền Vững Theo Sustainable Development Comission, phát triển bền vững (PTBV) là sự phát triển mà có thể vừa đáp ứng các nhu cầu của hiện tại, đồng thời không làm ảnh hưởng đến khả năng và tiềm lực phát triển của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng các nhu cầu của bản thân. PTBV có bao hàm rất nhiều lĩnh vực, nhành nghề khác và đề cao chất lượng cuộc sống và quyền tự do của con người (Pearce và cộng sự, 1994). Đối với khía cạnh PTBV, đề tài sử dụng mô hình của Geissdoerfer và cộng sự (2018), theo đó PTBV sẽ hướng đến 3 khía cạnh là kinh tế bền vững, môi trường bền vững và xã hội bền vững. Kinh tế bền vững Ủy ban Môi trường và Phát triển LHQ (1987) đã định nghĩa nền kinh tế bền vững là "nền kinh tế thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai".
Lorek và Spangenberg (2013) đã trình bày rằng cơ sở của một nền kinh tế bền vững là sự nhận thức về các nguồn tài nguyên tự nhiên như là di sản chung của toàn nhân loại, vậy nên đòi hỏi sự chia sẻ công bằng giữa các thế hệ hiện tại đồng thời vẫn còn có giá trị sử dụng cho các thế hệ tương lai. Việc hướng đến nền kinh tế bền vững sẽ đem đến các lợi ích về khía cạnh kinh tế bao gồm giảm chi phí liên quan đến tiêu thụ năng lượng và nguyên liệu thô, tối ưu hóa phương pháp quản lý chất thải, kiểm soát khí thải và giảm lượng thuế môi trường mà doanh nghiệp phải nộp (Korhonen và cộng sự, 2018). Geissdoerfer và cộng sự (2018) đã đề xuất 3 khía cạnh của một nền kinh tế bền vững trong mô hình của nền KTTH, bao gồm giá trị đề xuất, giá trị tạo ra và sự lan tỏa, và giá trị hữu hình. Giá trị đề xuất của nền kinh tế bền vững đề cập đến các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp có thể tạo ra với biên lợi nhuận đủ để đảm bảo cho lợi nhuận mà doanh nghiệp đó mong muốn.
Các sản phẩm và dịch vụ này được thiết kế thân thiện 16 với môi trường và dễ dàng tái chế, tuy vậy vẫn cần đảm bảo có thể bù đắp chi phí trực tiếp và gián tiếp, để đem lại được lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong khi đó, giá trị được tạo ra (hay được gọi là giá trị vô hình) là khuyến khích và tạo ra động lực cho các bên liên quan và tham gia vào chuỗi cung ứng nhằm tối đa hóa việc sử dụng sản phẩm, chỉ vứt bỏ khi sản phẩm đã hết giá trị sử dụng và tiến hành tái chế chúng trong hệ thống tái chế (Geissdoerfer và cộng sự, 2018). Với việc tối đa hóa vòng đời của sản phẩm, con người không chỉ góp phần vào tiết kiệm chi phí cho bản thân, mà còn làm chậm lại tốc độ sản xuất của các doanh nghiệp (đặc biệt đối với một số ngành nghề như thời trang nhanh), dẫn đến việc tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp và hướng đến tối đa hóa lợi nhuận. Khía cạnh cuối cùng của nền kinh tế bền vững là giá trị hữu hình, được đo lường dễ dàng nhất bởi lợi nhuận mà các doanh nghiệp tạo ra, hoặc góp phần tạo ra đối với các bên liên quan.
Theo Jackson (2009), để hướng đến nền kinh tế bền vững chung cho toàn xã hội, các doanh nghiệp cần phải xây dựng một nền kinh tế vĩ mô bền vững, bảo vệ và đảm bảo khả năng phát triển lâu dài, và tôn trọng các giới hạn sinh thái của môi trường. Đầu tiên, để có thể xây dựng được nền kinh tế vĩ mô, cần phải phát triển các mô hình và công cụ để tìm hiểu các khía cạnh của nền kinh tế vĩ mô, ngoài ra đầu tư vào việc làm, tài sản và cơ sở hạ tầng, mà có thể kể đến như đầu tư công, đầu tư vào năng lượng tái tạo, đầu tư hệ thống giao thông công cộng hoặc các hệ thống bảo vệ sinh thái, công nghệ sạch nhằm đảm bảo tính hiệu quả cho tài nguyên được sử dụng. Ngoài ra, các doanh ngiệp cần phải chú ý đến khía cạnh tài chính và tài khóa trong nội bộ tổ chức (Jackson, 2009). Về việc đảm bảo cho sự thịnh vượng và phát triển mà chủ yếu có đối tượng là con người, doanh nghiệp cần phải thỏa mãn được nhu cầu về tiêu dùng vật chất đồng thời cả về khía cạnh tâm lý.
Để làm được điều này, doanh nghiệp cần khuyến khích việc chia sẻ công việc và cải thiện sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, giải quyết bất bình đẳng hệ thống, và tăng cường việc phát triển con người và xã hội. Cuối cùng, khi đề cập đến việc tôn trọng các giới hạn tự nhiên, Jackson (2009) nói đến việc sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ ở một mức độ mà môi trường có thể chấp nhận được, nhằm đảm bảo lợi ích và sự phát triển lâu dài. Để làm được điều này, các doanh nghiệp cần đề ra rõ ràng các giới hạn tài nguyên/phát thải, cải cách các chính sách tài khóa để hướng đến tính bền vững, và thúc đẩy chuyển giao công nghệ và bảo vệ hệ sinh thái. Môi trường bền vững Theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới của Liên hợp quốc (2018), bền vững môi trường là hành động theo cách đảm bảo các thế hệ tương lai có sẵn các nguồn tài nguyên thiên nhiên để sống một cách bình đẳng hoặc tốt hơn các thế hệ hiện tại.
Mặc dù nó có thể không được chấp nhận rộng rãi, nhưng định nghĩa của Liên hợp quốc là khá chuẩn và đã được mở rộng trong những năm qua để bao gồm các quan điểm về nhu cầu và hạnh phúc của con người, các biến phi kinh tế, chẳng hạn như giáo dục và y tế, không khí sạch và nước, và bảo vệ vẻ đẹp tự nhiên. Bên cạnh đó, Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) (2019) lại cho rằng tính bền vững về môi trường là ổn định mối quan hệ đang bị phá vỡ giữa hai hệ thống phức tạp nhất của trái đất: văn hóa con người và thế giới sống, nói một cách đơn giản, đó là khả năng cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong khi sống trong các hệ sinh thái hỗ trợ của trái đất bởi thực tế là các mô hình sản xuất và tiêu dùng toàn cầu đang hủy hoại thiên nhiên với tốc độ cao và mức nguy hiểm vô cùng. Khi dân số tăng lên và con người phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Trái đất - chẳng hạn như khoáng sản, dầu mỏ, than đá, khí đốt, v. - sự đa dạng sinh học của Trái đất và các loài sinh vật cũng đã giảm số lượng tương đối lớn.
Do đó, theo nhà môi trường học Paul Hawken (2018), con người đang sử dụng và phá hủy các nguồn tài nguyên của trái đất nhanh hơn mức chúng có thể được tái tạo và bổ sung. Các định nghĩa khác nhau về tính bền vững của môi trường thường dẫn đến nhiều câu hỏi về vai trò của con người. Để thực hiện được mục tiêu PTBV, con người nên thay đổi cách sống và hoạt động kinh doanh trên hành tinh này như thế nào để đảm bảo hành tinh này bền vững cho các thế hệ tương lai? Từ đó chỉ ra vai trò quan trọng không chỉ của các cá nhân mà hơn hết là của các doanh nghiệp, liệu có thể sử dụng kinh doanh như động lực thúc đẩy sự thay đổi không vì thành công tài chính phải gắn liền với thành công về mặt sinh thái và xã hội, và ngược lại.