Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp giữ vị trí then chốt đối với sự ổn định kinh tế - xã hội của Việt Nam, cung cấp lương thực, thực phẩm, nguồn nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến và hàng hóa xuất khẩu. Tuy nhiên, nông nghiệp cũng là ngành kinh tế chịu tổn thương nặng nề nhất trước diễn biến của biến đổi khí hậu toàn cầu. Sự gia tăng của các hình thế thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán, nắng nóng kéo dài, rét hại và hiện tượng nước biển dâng đã gây ra những xáo trộn lớn đối với chu kỳ mùa vụ, năng suất cây trồng và sinh kế của cư dân nông thôn.

Thừa Thiên Huế là một tỉnh ven biển thuộc vùng Kinh tế trọng điểm Miền Trung, sở hữu hệ sinh thái chuyển tiếp đa dạng từ vùng núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải đến đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Mặc dù có tiềm năng tự nhiên phong phú cho phát triển nông - lâm - thủy sản, địa bàn này thường xuyên phải gánh chịu nhiều hình thái thiên tai khốc liệt. Tình trạng ngập úng do mưa lớn tập trung vào mùa đông kết hợp với hạn hán, xâm nhập mặn và gió Tây Nam khô nóng vào mùa hè đã trực tiếp đe dọa đến hoạt động sản xuất trồng trọt. Nhằm hạn chế rủi ro thiên tai, bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao thu nhập cho nông dân, việc chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành một yêu cầu cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương.

Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Thị Đoan Trang đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kế hoạch Đầu tư (Khoa Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế) với đề tài: "Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế". Khóa luận hướng đến giải quyết các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu tới sản xuất nông nghiệp và yêu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm thích ứng bền vững.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 – 2014.
  3. Điều tra, đo lường mức độ nhận thức của các nông hộ trực tiếp sản xuất trồng trọt về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với năng suất, tính thời vụ và cơ cấu cây trồng.
  4. Xác định phương hướng, mục tiêu và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 – 2020.

Khóa luận xác định đối tượng nghiên cứu là tình hình và quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng gắn với công tác thích ứng biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế nông nghiệp. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó số liệu sơ cấp được thu thập trọng điểm tại 3 xã đại diện cho các vùng sinh thái dễ bị tổn thương gồm xã Quảng Lợi (huyện Quảng Điền), xã Vinh Hà (huyện Phú Vang) và xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền). Phạm vi thời gian đánh giá thực trạng dựa trên chuỗi số liệu từ năm 2011 đến năm 2014; các định hướng và giải pháp đề xuất áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm chuẩn hóa được ban hành trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và các báo cáo đánh giá của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC). Tác giả làm rõ các thuật ngữ cốt lõi bao gồm: khí hậu, biến đổi khí hậu, tính dễ bị tổn thương, thích ứng, giảm nhẹ và kịch bản biến đổi khí hậu. Trong kinh tế nông nghiệp, khóa luận định nghĩa cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa các phân ngành, chuyên ngành bộ phận; cơ cấu cây trồng là thành phần giống, loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng được xác định là quá trình thay đổi cơ cấu mùa vụ, thành phần cây trồng hoặc quy mô diện tích nhằm phân bổ hợp lý các nguồn lực tài nguyên, nâng cao giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất canh tác. Khung phân tích của đề tài đặt sự biến động của cơ cấu cây trồng dưới tác động tổng hợp của bốn nhóm nhân tố chính: nguồn lực tự nhiên (thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, tiểu vùng khí hậu), chính sách đất đai (quyền sử dụng, chuyển nhượng, tích tụ ruộng đất), nguồn nhân lực nông nghiệp (số lượng và trình độ kỹ thuật của lao động) và hệ thống tín dụng vốn đầu tư (tín dụng thương mại và tín dụng chính sách).

Bên cạnh nền tảng lý luận, tác giả phân tích các bài học thực tiễn về chuyển đổi mô hình canh tác tại Đồng bằng sông Cửu Long (mô hình lúa - tôm, chuyển đổi từ 3 vụ lúa sang 2 vụ lúa - 1 vụ màu, đưa các giống lúa chịu mặn như OM6976, OM677, OM5464, OM5629, OM5166, OM1490, OM2517, B-TE1, OM4900, ST5 vào sản xuất) và tại tỉnh Bắc Giang (mô hình lúa kết hợp thủy sản, luân canh lạc xuân - lúa mùa - cây màu vụ đông, chỉnh trang đồng ruộng và dồn điền đổi thửa).

Để thực hiện các mục tiêu đặt ra, đề tài kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp cùng hệ thống công cụ xử lý thống kê kinh tế:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản báo cáo, đề án phát triển nông nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014, dữ liệu khí tượng thủy văn của Viện Tài nguyên và Môi trường Huế cùng các tài liệu kịch bản biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2011.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đối với 60 hộ gia đình trực tiếp sản xuất trồng trọt tại 3 xã thuộc các vùng sinh thái đặc thù chịu rủi ro thiên tai cao. Phiếu điều tra được thiết kế theo bảng hỏi cấu trúc gồm 3 phần: đặc điểm nhân khẩu - kinh tế của hộ, thực trạng sản xuất trồng trọt giai đoạn 2012 – 2014, và mức độ nhận thức về tác động của biến đổi khí hậu.
Địa bàn điều tra Huyện Quy mô mẫu điều tra (Phiếu) Tỷ lệ phân bổ mẫu (%)
Xã Vinh Hà Phú Vang 28 46,67%
Xã Quảng Lợi Quảng Điền 20 33,33%
Xã Phong Mỹ Phong Điền 12 20,00%
Tổng số 3 huyện 60 100,00%
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh chuỗi thời gian để làm rõ biến động diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng. Đối với dữ liệu khảo sát nông hộ, tác giả sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện kiểm định tính đồng nhất phương sai Levene (Levene's test) đối với diện tích, năng suất và nhận thức; đồng thời áp dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố ANOVA (Analysis of Variance) nhằm kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ nhận thức của người dân giữa các vùng sinh thái khác nhau.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế nông nghiệp

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về bản chất và nguyên nhân của biến đổi khí hậu toàn cầu. Tác giả dẫn chiếu các báo cáo khoa học của IPCC chỉ ra rằng các hoạt động của con người đóng góp từ 90% đến 95% nguyên nhân làm nóng lên toàn cầu thông qua việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong công nghiệp, năng lượng, giao thông (chiếm 46% lượng phát thải khí nhà kính), phá rừng nhiệt đới (18%), sản xuất nông nghiệp (9%) và hóa chất công nghiệp (24%). Các hệ quả vật lý bao gồm sự dâng cao của mực nước biển, biến động chu trình sinh địa hóa và sự gia tăng tần suất thiên tai cực đoan.

Xem xét tác động đến sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, chương này tổng hợp các số liệu quan trắc cho thấy trong giai đoạn 1951 – 2000, nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam đã tăng 0,7°C; mực nước biển tại trạm Hòn Dấu và Cửa Ông tăng khoảng 20 cm. Các kịch bản dự báo chỉ ra đến năm 2100 nhiệt độ trung bình có thể tăng thêm 3°C và nước biển dâng 1 m, có nguy cơ làm ngập 1,5 – 2,0 triệu ha đất tại Đồng bằng sông Cửu Long và 0,3 – 0,5 triệu ha tại Đồng bằng sông Hồng. Biến đổi nhiệt độ và lượng mưa khiến vùng thích nghi của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển dần lên các vĩ độ phía Bắc và vùng núi cao, trong khi phạm vi phân bố của cây trồng á nhiệt đới bị thu hẹp đáng kể (dự báo đến năm 2070 cây á nhiệt đới vùng núi chỉ sinh trưởng ở độ cao trên 100 – 500 m và lùi xa về phía Bắc từ 100 – 200 km). Từ việc tổng hợp kinh nghiệm chuyển đổi cây trồng tại Đồng bằng sông Cửu Long và Bắc Giang, tác giả rút ra 5 bài học kinh nghiệm: dựa trên tiềm năng thế mạnh sinh thái của địa phương; xác định ngành kinh tế mũi nhọn; ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu; quan tâm đến địa bàn vùng sâu vùng xa; và cụ thể hóa các mục tiêu bằng quy hoạch, kế hoạch hành động đồng bộ.

Chương 2: Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng - vật nuôi ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2014

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, biến động khí hậu và kết quả sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thừa Thiên Huế. Tỉnh có tổng diện tích đất tự nhiên là 503.320,5 ha; trong đó quỹ đất sử dụng vào phát triển nông, lâm nghiệp là 392.463,3 ha (chiếm 78%), đất sản xuất nông nghiệp chiếm 60.816,2 ha (12,1%), đất lâm nghiệp chiếm 325.208,8 ha (64,6%) và đất chưa sử dụng còn 19.461,2 ha (3,9%). Tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 44,9% năm 2000 lên 56,2% năm 2011 và đạt 57% vào năm 2013. Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011 – 2014 đạt 9,24%/năm, trong đó nông - lâm - thủy sản tăng 2,62%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2014 đạt 1.750 USD; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 11,2% (2010) xuống còn 5,3% (2014); tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 54%.

Về diễn biến thời tiết và biến đổi khí hậu, Thừa Thiên Huế có lượng mưa trung bình năm lớn (>2.700 mm), tập trung vào các tháng 9 đến tháng 1 năm sau, thường xuyên gây ngập lụt nghiêm trọng (điển hình trận lũ lịch sử ngày 04 - 05/11/1999 lượng mưa đạt tới 2.800 mm/ngày đêm; đợt mưa lớn từ ngày 01 đến 04/10/2010 đạt từ 500 đến 1.300 mm). Ngược lại, mùa khô từ tháng 2 đến tháng 8 chịu tác động của gió mùa Tây Nam khô nóng với nền nhiệt độ có thể lên đến 40°C, gây bốc hơi mạnh và hạn hán nghiêm trọng vào tháng 5 đến tháng 7. Theo kịch bản phát thải trung bình (B2) của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2011, đến năm 2050 nhiệt độ trung bình năm tại Thừa Thiên Huế dự báo tăng thêm từ 0,25°C đến 0,9°C và mực nước biển dâng thêm từ 23 đến 25 cm.

Phân tích số liệu sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2014 cho thấy giá trị sản xuất trồng trọt có xu hướng giảm nhẹ do các hình thái thời tiết cực đoan (từ 3.764,764 tỷ đồng năm 2011 xuống 3.743,822 tỷ đồng năm 2014, giảm 20,942 tỷ đồng), trong khi giá trị sản xuất chăn nuôi tăng từ 1.738 tỷ đồng lên cao hơn (tăng 129 tỷ đồng). Tuy nhiên, giá trị thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt của tỉnh đã có sự cải thiện rõ rệt, tăng từ 43,5 triệu đồng/ha năm 2010 lên 66,6 triệu đồng/ha năm 2014 (tăng 53%).

Chỉ tiêu cây trồng Đơn vị tính Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Diện tích lúa ha 53.140,0 53.385,0 53.645,0 53.412,0
Năng suất lúa tạ/ha 56,0 56,4 56,5 59,0
Sản lượng lúa tấn 297.584,0 301.091,0 303.094,0 299.402,0
Diện tích sắn ha 7.020,0 7.150,0 7.080,0 7.050,0
Năng suất sắn tạ/ha 191,1 184,6 183,8 183,0
Diện tích lạc ha 4.120,0 4.050,0 4.180,0 4.090,0
Năng suất lạc tạ/ha 18,0 21,0 22,0 18,1
Diện tích cao su ha 9.020,0 9.210,0 9.380,0 9.500,0
Năng suất mủ cao su tạ/ha 11,3 11,4 11,2 10,6
Diện tích cà phê ha 751,2 749,0 749,0 717,2
Diện tích thanh trà, bưởi ha 1.058,0 1.062,0 1.055,0 1.058,0

Trong cơ cấu cây trồng, lúa tiếp tục giữ vai trò chủ lực với diện tích năm 2014 đạt 53.412 ha (tăng 272 ha so với năm 2011), năng suất lúa bình quân tăng từ 56 tạ/ha lên 59 tạ/ha nhờ áp dụng các giống chất lượng cao (HC4, HN6, BT7) và nhân rộng mô hình cánh đồng lớn từ 100 ha năm 2013 lên 4.900 ha vào năm 2015. Vùng nguyên liệu cao su tiểu điền đạt khoảng 9.500 ha, cung cấp gần 6.500 tấn mủ khô/năm; vùng nguyên liệu sắn công nghiệp duy trì trên 7.000 ha; vùng lạc đạt khoảng 4.000 ha.

Đối với ngành chăn nuôi, đàn trâu bò có xu hướng giảm do cơ giới hóa thay thế sức kéo và diện tích đồng cỏ bị thu hẹp (tốc độ giảm bình quân giai đoạn 2009 – 2014 của đàn trâu là 5,36%/năm, đàn bò là 2,89%/năm, đàn lợn giảm 3,62%/năm do chi phí giống và thức ăn tăng cao). Về cơ cấu sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2014: thịt lợn chiếm tỷ trọng cao nhất với 56,65%, gia cầm chiếm 27,1%, thịt bò chiếm 5,53%, thịt trâu chiếm 4,98% và thịt dê chiếm 0,48%. Chăn nuôi chuyển dịch rõ nét sang hình thức trang trại tập trung với 1.001 cơ sở (443 trại lợn thịt, 240 trại vịt, 119 trại gà, 79 trại bò, 83 trại chim cút, 27 trại lợn nái, 8 trại trâu và 2 trại dê), bước đầu phát triển các chuỗi liên kết gia công với doanh nghiệp.

Dữ liệu khảo sát 60 hộ tại xã Vinh Hà, Quảng Lợi và Phong Mỹ cho thấy đa số nông dân đã cảm nhận rõ sự thay đổi của thời tiết trong 5 năm gần nhất qua các biểu hiện như nắng nóng gay gắt hơn, lũ lụt bất thường và xâm nhập mặn sâu hơn vào đồng ruộng. Kết quả kiểm định Levene và phân tích phương sai ANOVA khẳng định có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các xã về mức độ tổn thương năng suất cây trồng và nhận thức về biến đổi khí hậu, phản ánh tính đặc thù sinh thái của từng tiểu vùng. Tác giả chỉ ra các mặt hạn chế còn tồn tại: chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa phương còn mang tính tự phát; thiếu nguồn vốn đầu tư công cho thủy lợi nội đồng; chính sách hỗ trợ kỹ thuật chưa đồng bộ; chuỗi liên kết bao tiêu nông sản còn yếu; và công tác quy hoạch sử dụng đất chưa thích ứng triệt để với các biến số khí hậu cực đoan.

Chương 3: Mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng phát triển, và giải pháp góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 – 2020

Chương 3 xây dựng các mục tiêu, phương hướng và 4 nhóm giải pháp chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho giai đoạn 2016 – 2020:

  1. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch và quản lý quy hoạch: Tiến hành rà soát hiện trạng quỹ đất nông nghiệp theo hướng thích ứng với kịch bản biến đổi khí hậu của từng tiểu vùng (vùng cát ven biển, vùng trũng đầm phá, vùng gò đồi và miền núi). Lựa chọn các loại cây trồng có lợi thế so sánh và giá trị thương phẩm cao để lập các dự án đầu tư tập trung; tăng cường thanh tra, giám sát thực hiện quy hoạch đất nông nghiệp, chấm dứt tình trạng chuyển đổi tự phát không theo định hướng kỹ thuật.
  2. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư: Kết hợp nguồn vốn đầu tư công của nhà nước với việc thu hút vốn đầu tư từ doanh nghiệp tư nhân vào hạ tầng nông nghiệp. Tập trung nguồn vốn kiên cố hóa hệ thống kênh mương tưới tiêu, nâng cấp đê bao ngăn mặn và tiêu úng tại các vùng thấp trũng ven đầm phá; triển khai các chính sách tín dụng ưu đãi hỗ trợ nông dân tiếp cận vốn mua sắm máy móc cơ giới hóa đồng ruộng và vật tư nông nghiệp.
  3. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ: Phối hợp với các viện nghiên cứu và trường đại học trên địa bàn (như Đại học Nông Lâm Huế) để tuyển chọn, thử nghiệm và đưa vào sản xuất các bộ giống cây trồng có khả năng chịu hạn, chịu mặn, kháng sâu bệnh và thời gian sinh trưởng ngắn để né tránh mùa mưa bão. Nhân rộng quy trình kỹ thuật canh tác tiên tiến, mở rộng diện tích mô hình "cánh đồng lớn" liên kết chuỗi giá trị từ cung ứng giống, vật tư đến chế biến và bao tiêu nông sản.
  4. Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng: Tăng cường công tác khuyến nông, phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu và các biện pháp kỹ thuật thích ứng cho nông dân; tập huấn kỹ thuật chuyển đổi mùa vụ và kỹ năng phòng trừ dịch hại trong điều kiện thời tiết thay đổi bất thường; xây dựng năng lực tự thích ứng của cộng đồng nông thôn.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả định lượng cụ thể:
    • Hệ thống hóa toàn bộ các chỉ tiêu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2014: Tốc độ tăng trưởng GDP nông - lâm - thủy sản đạt bình quân 2,62%/năm; thu nhập trên 1 ha đất trồng trọt tăng từ 43,5 triệu đồng (2010) lên 66,6 triệu đồng (2014), tương ứng mức tăng 53%.
    • Ghi nhận diện tích lúa năm 2014 đạt 53.412 ha, năng suất đạt 59 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt xấp xỉ 305 nghìn tấn (riêng lúa đạt gần 300 nghìn tấn); mở rộng diện tích mô hình cánh đồng lớn từ 100 ha năm 2013 lên 4.900 ha vào năm 2015.
    • Xác lập quy mô các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung: vùng cao su đạt 9.500 ha (6.500 tấn mủ khô/năm), vùng sắn công nghiệp trên 7.000 ha, vùng lạc trên 4.000 ha.
    • Thống kê sự phát triển của hệ thống chăn nuôi trang trại với 1.001 cơ sở và cơ cấu thịt hơi xuất chuồng năm 2014 (thịt lợn chiếm 56,65%, gia cầm 27,1%, bò 5,53%, trâu 4,98%, dê 0,48%).
    • Lượng hóa nhận thức của 60 nông hộ tại 3 xã sinh thái thông qua kiểm định Levene và phân tích phương sai ANOVA, chứng minh sự biến thiên của tác động biến đổi khí hậu theo địa bàn cư trú.
  • Giải pháp và kiến nghị:
    • Kiến nghị đối với Trung ương: Tiếp tục hỗ trợ ngân sách đầu tư cho các công trình hạ tầng thủy lợi liên vùng ngăn mặn, chống lũ; phê duyệt các chương trình khoa học chuyển giao giống cây trồng chịu hạn mặn cho vùng duyên hải miền Trung; hoàn thiện chính sách đất đai khuyến khích tích tụ ruộng đất để hình thành cánh đồng quy mô lớn.
    • Kiến nghị đối với Địa phương (UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và các Sở ngành): Cụ thể hóa quy hoạch phân vùng cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu; ban hành cơ chế hỗ trợ tài chính cho nông dân chuyển đổi từ đất lúa kém hiệu quả sang cây màu; bố trí kinh phí đối ứng cho các dự án cánh đồng lớn và xúc tiến doanh nghiệp liên kết bao tiêu sản phẩm.
  • Đóng góp của đề tài: Tác giả đã tổng hợp và cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu giai đoạn 2011 – 2014; kết hợp phân tích số liệu vĩ mô cấp tỉnh từ các sở ngành với dữ liệu sơ cấp vi mô điều tra trực tiếp nông hộ; đề xuất được hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi đối với chính quyền địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Quy mô mẫu điều tra sơ cấp còn hạn chế (60 hộ gia đình tại 3 xã: Vinh Hà, Quảng Lợi, Phong Mỹ), chưa bao quát đầy đủ sự khác biệt của các tiểu vùng sinh thái nông nghiệp miền núi sâu (như huyện A Lưới, Nam Đông) hoặc vùng đồi núi hẻo lánh.
    • Chuỗi số liệu phân tích thực trạng dừng lại ở mốc thời gian năm 2014, chưa theo dõi được chu kỳ sinh trưởng và hiệu quả kinh tế dài hạn của một số loại cây công nghiệp lâu năm mới đưa vào trồng thử nghiệm.
    • Chưa đi sâu tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính chi tiết (như chi phí đầu tư chuyển đổi, tỷ suất lợi nhuận trên chi phí - BCR, thời gian thu hồi vốn) cho từng mô hình chuyển đổi cây trồng cụ thể ở cấp độ hộ gia đình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng quy mô và phạm vi lấy mẫu điều tra sang các xã thuộc vùng đồi gò và vùng núi cao để đánh giá toàn diện tính dễ bị tổn thương của các hệ thống canh tác nông lâm kết hợp.
    • Cập nhật và tích hợp kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường để mô hình hóa tác động đến năng suất cây trồng theo các chuỗi thời gian xa hơn (đến năm 2030 và 2050).
    • Nghiên cứu hạch toán chi phí - lợi ích tài chính và kinh tế xã hội chi tiết đối với từng loại cây trồng chuyển đổi trên đất lúa kém hiệu quả nhằm cung cấp cơ sở cụ thể cho chính sách trợ cấp của địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Quản lý Kinh tế, Kinh tế Phát triển, Khoa học Môi trường và Khuyến nông khi nghiên cứu về vấn đề thích ứng biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp.

Các phần có giá trị tham khảo cao trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp xây dựng bảng hỏi và quy trình kết hợp số liệu thứ cấp của các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) với số liệu điều tra hộ dân bằng các kiểm định thống kê Levene và ANOVA.
  • Hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết về diện tích, năng suất, sản lượng các loại cây trồng chính (lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, cao su, cà phê, thanh trà) và quy mô đàn gia súc, gia cầm của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2011 – 2014.
  • Khung giải pháp quản lý nhà nước về quy hoạch, huy động vốn đầu tư và ứng dụng khoa học kỹ thuật để chuyển đổi mùa vụ và cơ cấu giống tại vùng ven biển miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế và cơ cấu ngành của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2011 – 2014 như thế nào? Theo số liệu từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên Huế được tác giả trích dẫn (Bảng 2.1), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh giai đoạn 2011 – 2014 đạt 9,24%/năm. Trong đó, ngành dịch vụ tăng bình quân 11,35%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 8,59%/năm và ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng 2,62%/năm. GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 1.750 USD vào năm 2014 (so với 1.560 USD năm 2010).

2. Biến động diện tích và năng suất cây lúa của tỉnh Thừa Thiên Huế diễn ra ra sao trong giai đoạn 2011 – 2014? Diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh tăng từ 53.140 ha năm 2011 lên 53.412 ha năm 2014 (tăng 272 ha). Năng suất lúa bình quân tăng từ 56 tạ/ha năm 2011 lên 59 tạ/ha năm 2014. Mô hình sản xuất lúa chất lượng cao theo cánh đồng lớn tăng trưởng nhanh từ 100 ha năm 2013 lên 4.900 ha vào năm 2015 với các giống chủ lực như HC4, HN6, BT7.

3. Mẫu khảo sát sơ cấp của đề tài được phân bổ cụ thể tại các địa phương nào và quy mô bao nhiêu? Tác giả đã thực hiện điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc trên 60 hộ gia đình sản xuất trồng trọt tại 3 xã đại diện cho các vùng sinh thái dễ bị tổn thương do thiên tai và biến đổi khí hậu: xã Vinh Hà thuộc huyện Phú Vang (28 phiếu, chiếm 46,67%), xã Quảng Lợi thuộc huyện Quảng Điền (20 phiếu, chiếm 33,33%) và xã Phong Mỹ thuộc huyện Phong Điền (12 phiếu, chiếm 20,00%).

4. Khóa luận sử dụng kịch bản biến đổi khí hậu nào để dự báo tác động tới Thừa Thiên Huế và số liệu dự báo ra sao? Khóa luận căn cứ vào "Kịch bản BĐKH, nước biển dâng Việt Nam" do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2011, sử dụng kịch bản phát thải trung bình (B2) và phát thải cao (A2). Theo kịch bản B2 (Bảng 2.3), đến năm 2050 nhiệt độ trung bình năm tại Thừa Thiên Huế dự báo tăng 0,25°C - 0,9°C và mực nước biển dâng thêm từ 23 cm đến 25 cm so với thời kỳ 1980 - 1999; lượng mưa mùa khô dự báo giảm mạnh trong khi lượng mưa các tháng mùa lũ (tháng 9 - 11) tăng cao.

5. Cơ cấu thịt hơi xuất chuồng năm 2014 của tỉnh Thừa Thiên Huế phân theo các loại vật nuôi được ghi nhận như thế nào? Theo số liệu thống kê năm 2014 trong khóa luận (Bảng 2.10), thịt lợn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng với 56,65%; tiếp đến là thịt gia cầm chiếm 27,10%; thịt bò chiếm 5,53%; thịt trâu chiếm 4,98% và thịt dê chiếm 0,48%.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Đoan Trang đã phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011 – 2014 dưới tác động của biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Thông qua sự kết hợp giữa hệ thống số liệu thứ cấp cấp tỉnh và khảo sát sơ cấp 60 nông hộ có kiểm định thống kê tại 3 huyện chịu tổn thương cao, công trình đã làm rõ những thành quả tăng trưởng năng suất, mở rộng vùng chuyên canh cây công nghiệp cùng các hạn chế về quy hoạch, liên kết thị trường và rủi ro tự nhiên. Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ thực tiễn thiết thực cho công tác quản lý và định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp thích ứng bền vững tại địa phương trong giai đoạn 2016 – 2020.