phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế Nông nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2011- 2014. Chƣơng 3: Định hƣớng phát triển, mục tiêu và giải pháp góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế Nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020. SVTH: Nguyễn Thị Đoan Trang 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Mỹ Minh Châu - Th.S Đào Duy Minh PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CÂY TRỒNG ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 1.1 Một số khái niệm cơ bản Theo Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Chƣơng trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, 2008 ta có một số khái niệm nhƣ sau: Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình theo thời gian của thời tiết (thường là 30 năm).
Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. Biến đổi khí hậu có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất. Khả năng bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu.
Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Giảm nhẹ BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính. Kịch bản BĐKH là giả định có cơ sở khoa học và tính tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa KT - XH, GDP, phát thải khí nhà kính, biến SVTH: Nguyễn Thị Đoan Trang 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Mỹ Minh Châu - Th.S Đào Duy Minh đổi khí hậu và mực nước biển dâng. Lưu ý rằng, kịch bản biến đổi khí hậu khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu là nó đưa ra quan điểm về mối ràng buộc giữa phát triển và hành động.2 Nguyên nhân dẫn đến biến đổi khí hậu trên toàn cầu 1.1 Nguyên nhân do tự nhiên Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm thay đổi cƣờng độ sáng của Mặt trời, xuất hiện các điểm đen Mặt trời (Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dƣơng, thay đổi quỹ đạo quay của trái đất.
Số Sunspots xuất hiện trung bình năm từ năm 1610 đến 2000. Với sự xuất hiện các Sunspots làm cho cƣờng độ tia bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lƣợng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất. Sự thay đổi cƣờng độ sáng của Mặt trời cũng gây ra sự thay đổi năng lƣợng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt trái đất. Núi lửa phun trào: khi một ngọn núi lửa phun trào sẽ phát thải vào khí quyển một lƣợng cực kỳ lớn khối lƣợng sulfur dioxide (SO2), hơi nƣớc, bụi và tro vào bầu khí quyển.
Khối lƣợng lớn khí và tro có thể ảnh hƣởng đến khí hậu trong nhiều năm. Các hạt nhỏ đƣợc gọi là các sol khí đƣợc phun ra bởi núi lửa, các sol khí phản chiếu lại bức xạ (năng lƣợng) mặt trời trở lại vào không gian vì vậy chúng có tác dụng làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất. Đại dƣơng ngày nay: các đại dƣơng là một thành phần chính của hệ thống khí hậu. Dòng hải lƣu di chuyển một lƣợng lớn nhiệt trên khắp hành tinh.
Thay đổi trong lƣu thông đại dƣơng có thể ảnh hƣởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của CO2 vào trong khí quyển. Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất: Trái đất quay quanh Mặt trời với một quỹ đạo. Trục quay có góc nghiêng 23,50. Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thể dẫn đến những thay đổi nhỏ.
Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thể tính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnh hƣởng lớn đến BĐKH. SVTH: Nguyễn Thị Đoan Trang 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Mỹ Minh Châu - Th.S Đào Duy Minh 1.2 Nguyên nhân do con ngƣời Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tính chu kỳ kể từ quá khứ đến hiện nay. Theo các kết quả nghiên cứu và công bố từ Ủy Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con ngƣời. Trong báo cáo của IPCC 2007: Một loạt các nghiên cứu đƣợc thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạt động con ngƣời đóng góp vào 90% nguyên nhân gây ra BĐKH.
Và theo bản báo cáo bị rò rỉ của IPCC gần đây nhất kết luận rằng hoạt động con ngƣời đóng góp vào 95% nguyên nhân gây ra BĐKH. Kể từ thời kỳ tiền công nghiệp (khoảng từ năm 1750), con ngƣời đã sử dụng ngày càng nhiều năng lƣợng, chủ yếu từ các nguồn nguyên liệu hóa thạch (than, dầu, khí đốt), qua đó đã thải vào khí quyển ngày càng tăng các chất khí gây hiệu ứng nhà kính của khí quyển, dẫn đến tăng nhiệt độ của trái đất. Đánh giá khoa học của IPPC cho thấy, việc tiêu thụ năng lƣợng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lƣợng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18%, sản xuất Nông nghiệp khoảng 9% các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác. Theo Tổ chức Khí tƣợng Thế giới (WMO) trong năm 2013, nồng độ carbon dioxide (CO2) trong khí quyển cao hơn 142% so với giữa thế kỷ 18, trƣớc khi diễn ra cách mạng công nghiệp.
Nồng độ khí methane (CH4) cũng tăng 153% và nitric oxide (NO) tăng 21%. Nồng độ CO2 trung bình trên toàn cầu sẽ vƣợt ngƣỡng 400 phần triệu vào năm 2015 hoặc 2016, so với 393,1 phần triệu trong năm 2012. Chính vì thế, một nguyên tắc cơ bản, đầu tiên đƣợc ghi trong Công ƣớc Khung của Liên hợp quốc về BĐKH là: “Các bên phải bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau của nhân loại, trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và bên các nước phát triển phải đi đầu trong việc đấu tranh chống BĐKH và những ảnh hưởng có hại của chúng”. SVTH: Nguyễn Thị Đoan Trang 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Mỹ Minh Châu - Th.S Đào Duy Minh 1.3 Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên toàn cầu Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
Sự thay đổi thành phần và chất lƣợng khí quyển có hại cho môi trƣờng sống của con ngƣời và các sinh vật trên trái đất. Sự dâng cao mực nƣớc biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển. Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con ngƣời. Sự thay đổi cƣờng độ hoạt động của quá trình hoàn lƣu khí quyển, chu trình tuần hoàn nƣớc trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác.
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lƣợng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển.2 Tổng quan về chuyển đổi cơ cấu cây trồng 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Cơ cấu ngành Nông nghiệp Phân công xã hội dẫn đến phân chia nền sản xuất xã hội thành những ngành lớn nhƣ Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ, mỗi ngành lớn lại chia thành những phân ngành, và mỗi phân ngành lại chia thành những ngành nhỏ hơn. Sản phẩm của các ngành đƣợc phân chia ra nhƣ vậy đƣợc trao đổi lẫn cho nhau. Quá trình trao đổi này không chỉ dừng lại ở trao đổi sản phẩm Nông nghiệp lấy sản phẩm công nghiệp mà còn trao đổi các sản phẩm Nông nghiệp với nhau nên thị trƣờng đang có xu hƣớng ngày càng mở rộng. Giữa các ngành nói trên có mối quan hệ với nhau hình thành cơ cấu ngành kinh tế.
Một nền kinh tế lành mạnh, có nhịp độ tăng trƣởng ổn định, phải có một cơ cấu phù hợp. Đó là cơ cấu đảm bảo đƣợc sự hài hòa giữa các yếu tố tạo thành một hệ thống. Mối quan hệ giữa các bộ phận với hệ thống đƣợc đo lƣờng bằng tỷ trọng của mỗi bộ phận đó trong từng phân ngành, từng ngành hay trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Trong nội bộ ngành Nông nghiệp gồm có trồng trọt và chăn nuôi, trong trồng trọt lại có trồng cây lƣơng thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, rau, hoa màu.Trong SVTH: Nguyễn Thị Đoan Trang 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Mỹ Minh Châu - Th.S Đào Duy Minh ngành chăn nuôi cũng phân chia thành chăn nuôi gia súc gồm nuôi trâu, bò, lợn, dê., chăn nuôi gia cầm gồm nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng.
Để hiểu rõ hơn về cơ cấu ngành kinh tế nói chung và cơ cấu ngành trong kinh tế Nông nghiệp nói riêng, ngƣời ta sử dụng nhiều chỉ tiêu đo lƣờng khác nhau nhƣ cơ cấu diện tích các loại cây trồng; cơ cấu giá trị sản phẩm chủ yếu, cơ cấu lợi nhuận và thu nhập, cơ cấu lao động. Nhƣ vậy, Cơ cấu ngành Nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lƣợng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận.