Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ TUY HÒA TRƯỚC NĂM 1989 1. Đặc điểm tự nhiên 1. Vị trí địa lý, địa hình, sông ngòi và khí hậu * Vị trí địa lý Thành phố Tuy Hòa là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh Phú Yên. Phía bắc giáp huyện Tuy An, phía nam giáp huyện Tuy Hòa, phía tây giáp huyện Phú Hòa, huyện Sơn Hòa và phía đông giáp biển Đông.
Thành phố Tuy Hòa nằm ở tọa độ 13015’ Bắc, 109025’ Đông. Trải qua nhiều lần chia tách và sáp nhập, đến trước năm 1989, Tuy Hòa có 6 phường, 10 xã. Diện tích tự nhiên của Tuy Hòa là 338,9 km2, chiếm 7,3% diện tích toàn tỉnh [79, tr. Đến năm 2003, Tuy Hòa có diện tích tự nhiên là 64,36 km2 với số dân 96.904 người [44, tr.
Năm 2005, thị xã Tuy Hòa trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Phú Yên, địa giới hành chính của thành phố được điều chỉnh, diện tích tự nhiên của thành phố là 106,82 km2, chiếm 2,12% diện tích toàn tỉnh, dân số là 162.278 người [66, tr. Năm 2010, dân số thành phố đạt 154.262 người [94, tr. Từ thời chúa Nguyễn, phần đất Tuy Hòa hầu hết thuộc huyện Đồng Xuân, chỉ có phường Câu Thôn thuộc huyện Tuy Hòa. Năm 1899, huyện Tuy Hòa được nâng lên thành phủ Tuy Hòa gồm 5 tổng thì chỉ có tổng Hòa Bình nằm ở phía bắc sông Đà Rằng.
Năm 1900, 12 làng của tổng Sơn Tường, huyện Sơn Hòa nhập vào phủ Tuy Hòa lấy tên là tổng Hòa Tường, sau đó lập thêm tổng Hòa Đồng. Cho đến ngày Cách mạng tháng Tám thành công, phủ Tuy Hòa có 7 tổng, trong đó 2 tổng Hòa Tường và Hòa Bình nằm ở phía bắc sông Đà Rằng. 13 Quyết định số 49/CP ngày 10/3/1977 của Hội đồng Chính phủ hợp nhất huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa thành một huyện lấy tên là huyện Tuy Hòa. Quyết định số 241/CP ngày 22/9/1978 của Hội đồng Chính phủ chia huyện Tuy Hòa thành 2 đơn vị hành chính lấy tên là huyện Tuy Hòa và thị xã Tuy Hòa.
Thị xã Tuy Hòa có 6 phường và 2 xã là Bình Kiến và Bình Ngọc. Quyết định số 177/CP ngày 23/4/1979 của Hội đồng Chính phủ thành lập vùng kinh tế mới thôn Phong Hậu, buôn Hố Hầm thôn Lỗ Rong và một xã mới là xã Hòa Hội. Tuy Hòa nằm trên trục quốc lộ 1A, quốc lộ 25 chiến lược, cách Hà Nội 1.177 km và cách thành phố Hồ Chí Minh 561 km. Tuy Hòa là đầu mối giao thông thủy bộ, nối liền với các tỉnh, thành phố trong khu vực duyên hải miền Trung và Tây Nguyên.
Nơi đây là đầu mối giao lưu kinh tế từ Sông Cầu, La Hai đến Củng Sơn, Nha Trang. Tuy Hòa có sông Ba nối với biển Đông tạo thành hệ thống giao thông đường thủy thuận tiện; có đường sắt Bắc – Nam chạy qua và đặc biệt là có sân bay Tuy Hòa, hội đủ những yếu tố để trở thành sân bay dân dụng của Nam Trung Bộ. * Địa hình Từ xa xưa, thiên nhiên đã tạo cho Tuy Hòa một cảnh quan đẹp mắt, sơn thủy hữu tình của núi, sông, đồng bằng, biển cả, biểu hiện nét độc đáo hiếm thấy. Núi của Tuy Hòa tập trung chủ yếu ở xã Hòa Kiến.
Vùng châu thổ đồng bằng có núi Nhạn và núi Chóp Chài. Núi Nhạn là cảnh tượng nổi bật nằm giữa lòng thành phố, vừa tô đẹp cảnh quan nơi đây vừa như một biểu tượng khí phách của người dân đã từng vượt qua bao lam lũ để rồi vẫn tồn tại hiên ngang, vững chãi với mảnh đất này. Trên đỉnh núi có ngôi tháp Chăm cổ kính có tên là Tháp Nhạn, được xây dựng vào cuối thế kỉ XI với chiều cao 20 m. Cảnh quan 14 Tháp Nhạn là một thắng cảnh cổ kính và thơ mộng đối với nhân dân Tuy Hòa.
Cách núi Nhạn 4 km về phía bắc là núi Chóp Chài cao 391 m, hình nón úp nằm đơn độc giữa vùng đồng bằng bằng phẳng. Từ lâu, núi Chóp Chài còn giúp nhân dân quanh vùng dự đoán thời tiết: Chóp Chài đội mũ Mây phủ Đá Bia Cóc nhái kêu lia Trời mưa như đổ Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Chóp Chài là căn cứ địa cách mạng của quân và dân ta. Để tấn công vào Tuy Hòa, bọn địch đã xây dựng trên núi Chóp Chài một khu quân sự khá kiên cố nhưng mọi nỗ lực của chúng đều bị thất bại trước tinh thần đấu tranh bất khuất của nhân dân nơi đây. * Sông ngòi Hệ thống sông ngòi ở Tuy Hòa không chỉ tạo nên cảnh quan đẹp mắt và giao thông đi lại thuận tiện mà còn là nguồn phù sa vô tận hàng năm bồi đắp cho những cánh đồng mênh mông, bát ngát của nhân dân.
Các con sông đều ngắn, dốc. Tuy Hòa có hai con sông là sông Ba và sông Chùa. Sông Ba dài 360 km, phần chảy qua Phú Yên dài 90 km, xưa kia có tên gọi là sông Bà, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô cao 1.500 m thuộc Gia Lai. Dòng sông Ba đổ ra cửa biển Đà Diễn cạnh Tuy Hòa.
Sông Ba là sông lớn của miền Trung có tiềm năng thủy điện dồi dào. Ở thượng lưu, sông Ba còn được gọi là Eaba, ở hạ lưu gọi là Đà Rằng, đoạn chảy qua Tuy Hòa gọi là sông Đà Rằng. Ở đây có hai chiếc cầu bắc qua dòng sông: một cầu dành cho đường bộ và một cầu dành cho đường xe lửa. Cầu Đà Rằng là cây cầu lớn 15 nhất miền Trung với 21 nhịp, dài 1.
Cùng với núi Nhạn, sông Đà Rằng là biểu tượng của Phú Yên. Ngoài sông Ba, Tuy Hòa còn có sông Chùa chảy dưới chân núi Nhạn, qua cửa Đà Diễn rồi đổ ra biển Đông. Cầu Đà Rằng và cầu sông Chùa đem lại sự thuận tiện trong giao thông, sự phát triển kinh tế cho tỉnh Phú Yên và miền Nam Trung Bộ, đồng thời làm tăng thêm vẻ hài hòa, hùng vĩ cho thành phố Tuy Hòa. * Khí hậu, thủy văn Với vị thế là nơi tiếp giáp đồng bằng, gần biển, khí hậu Tuy Hòa vừa có nét chung là nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nhưng vừa có nét riêng là khí hậu trung bình thấp hơn các nơi khác.
Khí hậu Tuy Hòa mang tính chất chuyển tiếp giữa miền bắc và miền nam, hình thành hai mùa rõ rệt. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình là 270C, nóng nhất từ tháng 4 đến tháng 7 với nhiệt độ cao nhất là 390C. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa trung bình là 300 mm, cao nhất là 600 mm. Độ ẩm trung bình năm dao động từ 80 – 82% [67, tr.
Vào mùa nắng, Tuy Hòa chịu ảnh hưởng của gió tây nam (còn gọi là gió Lào), mùa mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc thổi vào. Cư dân Tuy Hòa có kinh nghiệm xem thời tiết khi nhìn lên núi Chóp Chài: Lập lòe trời chớp Vũng Rô Mây che Hòn Yến, gió vô Chóp Chài Đó là dấu hiệu trời sắp mưa to. Với lượng nắng mưa hài hòa như vậy, thời tiết ở Tuy Hòa tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của cây lúa nước. Tuy vậy, nghề nông ở Tuy Hòa nói riêng cũng như tỉnh Phú Yên và các tỉnh duyên hải miền Trung nói chung còn chịu ảnh hưởng nhiều của gió bão.
Hàng năm, vào mùa mưa, nhiều cơn bão từ biển Đông đổ bộ vào khu vực Nam Trung Bộ (trong đó 16 có Tuy Hòa) với sức gió từ cấp 6 đến cấp 10. Điều này cũng gây nhiều thiệt hại cho sự phát triển kinh tế của Tuy Hòa, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và ngư nghiệp – những ngành nghề vốn phụ thuộc nhiều vào thời tiết với sự mong mỏi và trông ngóng của người nông dân: Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm 1. Tài nguyên thiên nhiên * Tài nguyên đất Xét về địa chất, Tuy Hòa có các loại đất sau: Đất phù sa ở vùng châu thổ Tuy Hòa được sông Đà Rằng mang phù sa về bồi đắp. Loại đất này rất tốt, thích hợp với việc trồng lúa, các loại hoa màu và lập vườn tược.
Chính vì vậy mà cánh đồng lúa Tuy Hòa tươi tốt quanh năm và là vựa lúa lớn của tỉnh. Nhân dân địa phương thường có câu hát để chỉ sự phát triển của nông nghiệp nơi đây: Tuy Hòa lắm lúa nhiều bông Em về đây kết nghĩa cho thong dong con người Hay như thi sĩ Lam Giang đã tóm gọn vị trí tỉnh Phú Yên trong bốn câu thơ nhưng đã nêu bật lên vựa lúa Tuy Hòa: Ba mặt núi vây quanh Phương đông trùng dương xanh Tuy Hòa đồng ruộng lớn Đồi Nhạn tháp Chiêm thành Ngoài đất phù sa chiếm tỉ lệ lớn, Tuy Hòa còn có đất xám tập trung ở phía tây, thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp và trồng cây công nghiệp. Đất đen tập trung nhiều ở xã Bình Kiến, thích hợp cho việc trồng trọt, làm vườn. Đất cát pha tập trung nhiều ở ven bờ biển Tuy Hòa do những cơn nước và sóng gió từ ngoài biển mang cát tấp vào bờ mà tạo thành.
Đất này thích 17 hợp với việc trồng dừa. Chính vì vậy mà thi sĩ Quách Tấn đã có hai câu thơ để nói lên sự tươi tốt của vườn dừa Tuy Hòa: Vườn dừa mé biển tung đuôi phụng Rẫy bắp sườn non thẳng cánh cò Nhìn chung, thổ nhưỡng, địa hình Tuy Hòa thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp và dịch vụ du lịch. Núi non ở Tuy Hòa chỉ để điểm tô thêm cho vẻ đẹp nơi đây và là những địa điểm cho khách du lịch dừng chân tham quan. Lâm nghiệp Tuy Hòa phát triển nhất là xã Hòa Kiến với những dãy núi thấp.
* Tài nguyên rừng Các nhân tố địa hình, khí hậu, thủy văn và đất đai đã ảnh hưởng và quyết định đến sự phân bố và phát triển của hệ thống động thực vật. Tuy Hòa có nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng, phong phú. Về rừng, có ba loại rừng chính là rừng kín lá rộng thường xanh, rừng truông gai cây bụi và rừng trồng. Kiểu thực vật trên cát cũng khá phát triển ở khu vực ven biển.
Một số loài thực vật quý hiếm như xúng đáo, trầm hương, xoay, kiền kiền, gụ mật, hoàng đan giả,… Về động vật có heo rừng, chồn hương, các loài chim thú quý khác… * Tài nguyên biển Bờ biển Tuy Hòa kéo dài từ Mỹ Á đến phường 6 với chiều dài 6,5 km. Bờ biển tương đối bằng phẳng, có cửa biển Đà Diễn nhưng mực nước thấp, chỉ dùng cho tàu thuyền đánh cá ra vào.