CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Vai trò và đặc điểm của nông nghiệp 1. Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài người. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng cấu thành nền kinh tế quốc dân.
Mọi quốc gia trên thế giới đều có những chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp. Ngay cả những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Pháp… sản xuất nông nghiệp cũng luôn được chú trọng và thực tế cho thấy các sản phẩm nông nghiệp đã đóng góp rất nhiều vào kim ngạch xuất khẩu. Ở nước ta, sản xuất nông nghiệp đã có từ xa xưa và được xem là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Đến nay, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với tỷ trọng 16,32% GDP trong năm 2016 [10].
Sản xuất nông nghiệp đang từng bước chuyển từ nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá lớn. Nông nghiệp là một ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, theo nghĩa rộng, nông nghiệp còn bao gồm cả ngư nghiệp và lâm nghiệp [2]. Theo Lưu Đức Khải (2015), vai trò của nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân được thể hiện ở một số điểm sau [4]: - Nông nghiệp đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Thứ nhất, nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.
Thứ hai, nông nghiệp cung cấp nông sản cho xuất khẩu, thu ngoại tệ, tạo vốn để mua sắm máy móc, thiêt bị, vật tư thiết yếu cho công nghiệp hóa, hình thành quan hệ trong phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế. Thứ ba, phát triển nông nghiệp tạo tiền đề để kinh tế - xã hội cho phân công lao 5 động mới và tái cơ cấu trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, nông nghiệp còn là ngành cung cấp sức lao động cho phát triển công nghiệp. - Nông nghiệp đóng góp vào phát triển: Thứ nhất, với vai trò là hoạt động kinh tế, nông nghiệp đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, cung cấp các cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân và tạo động lực phát triển các ngành công nghiệp liên quan tới nông nghiệp, bao gồm cả công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản và cả công nghiệp hóa chất, cơ khí. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, trong các nước đang phát triển, nông nghiệp đóng góp 29% GDP và giải quyết việc làm cho 65% lực lượng lao động xã hội.
Thứ hai, nông nghiệp còn là một ngành sinh kế. Theo Ngân hàng thế giới, nông nghiệp là sinh kế cho 86% dân số nông thôn, tạo việc làm cho 1,3 tỷ nông hộ và những nông dân không có ruộng đất. Trong 5,5 tỷ người của thế giới đang phát triển thì có tới 3 tỷ người đang sống ở các vùng nông thôn và chiếm khoảng một nửa tổng dân số. - Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo Nông nghiệp là công cụ hiệu quả trong công tác giảm nghèo.
Tăng trưởng nông nghiệp có ảnh hưởng tích cực và mạnh tới công tác giảm nghèo tại tất cả các quốc gia, Theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng GDP trong nông nghiệp có hiệu quả giảm nghèo nhiều hơn gấp đôi so với tăng trưởng GDP của các ngành khác. Những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp So với các ngành kinh tế khác, sản xuất nông nghiệp có những nét đặc thù riêng biệt mà trong quản lý Nhà nước cần phải quan tâm: - Sản xuất nông nghiệp chịu tác động và chi phối mạnh của các quy luật tự nhiên và các điều kiện cụ thể như đất đai, khí hậu, sinh vật, thời tiết. - Lao động nông nghiệp của con người phụ thuộc vào quá trình tăng trưởng của sinh vật, cây con trong nông nghiệp có quy luật vận động riêng. Đặc điểm đó có vai trò quyết định đến năng suất lao động trong nông nghiệp.
6 - Thời gian lao động và thời gian sản xuất không ăn khớp, tính thời vụ cao, tiềm năng lao động trong nông nghiệp còn rất lớn, nhất là những vùng chậm phát triển. - Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng không thể thay thế được trong hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất nông nghiệp có xu hướng giảm do tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá. Ngoài những đặc thù trên, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam còn có đặc điểm sau: - Việt Nam là một nước đất hẹp, người đông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người thấp (0,11ha/ người).
- Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại cây con phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh đó Việt Nam cũng là nơi gánh chịu nhiều thiên tai, điều đó cũng tác động không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp. - Nền nông nghiệp Việt Nam đang chuyển dần từ nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền nông nghiệp hàng hoá quy mô lớn gắn với thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế. Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 1.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 1. Khái niệm cơ cấu kinh tế Nền kinh tế của mỗi nước là một tổ hợp phức tạp, bao gồm các bộ phận và phân hệ hợp thành. Việc phân tích, đánh giá cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải xem xét cấu trúc bên trong của nền kinh tế, biểu hiện ở những mối quan hệ kinh tế giữa các bộ phận và giữa các phân hệ của các bộ phận đó trong hệ thống kinh tế. Những mối quan hệ kinh tế đó ràng buộc lẫn nhau và được biểu hiện ở những quan hệ về mặt lượng cũng như quan hệ về mặt chất.Mác đã chỉ ra rằng: “Cơ cấu kinh tế là sự phân chia về chất lượng và tỉ lệ về số lượng của quá trình sản xuất xã hội" [5].
Một cơ cấu kinh tế hợp lý phải có các bộ phận, các phân hệ được kết hợp với nhau một cách hài hoà, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên của đất nước, làm cho nền kinh tế phát triển lành mạnh, có nhịp độ tăng trưởng và phát triển ổn định, nâng cao mức sống của dân cư và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động làm việc có hiệu quả. 7 “Cơ cấu kinh tế tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” [5]. Cơ cấu kinh tế của một nước xét trên tổng thể bao gồm những mối liên hệ tổng thể giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của nước đó, bao gồm các yếu tố kinh tế, các lĩnh vực kinh tế (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), các ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ …), các khu vực kinh tế (nông thôn, thành thị), các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể, hộ gia đình). Ở mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi thành phần kinh tế lại có cơ cấu riêng của mình tuỳ thuộc vào những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội cụ thể.
Từ sự phân tích trên có thể khái quát cơ cấu kinh tế như sau: “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước. Các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao”. Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, cơ cấu kinh tế cũng bao gồm các loại chủ yếu sau đây: - Cơ cấu ngành kinh tế Là cơ cấu kinh tế quan trọng nhất, là tổ hợp các ngành của nền kinh tế. Nó biểu thị quan hệ giữa các ngành kinh tế, những tổng thể đơn vị kinh tế cùng thực hiện một loại chức năng trong hệ thống phân công lao động xã hội theo ngành để sản xuất ra những sản phẩm hoặc những dịch vụ có những đặc tính chung nhất định.
Sự phát triển các ngành kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, do sự phát triển của phân công lao động xã hội quyết định. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, thuở bình minh của loài người cơ cấu kinh tế là nông nghiệp. Khi phân công lao động phát triển, thủ công nghiệp tách khỏi nghề nông và trở thành ngành công nghiệp thì cơ cấu kinh tế của các nền kinh tế chuyển thành nông - công nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp làm cho nó chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân, cơ cấu kinh tế chuyển từ nông - công nghiệp sang công - nông nghiệp.
Tiếp đến, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế, cơ cấu kinh tế dần chuyển dịch sang công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. 8 - Cơ cấu thành phần kinh tế Là cơ cấu sở hữu của nền kinh tế. Như ta biết lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của nền kinh tế. Nếu cơ cấu ngành kinh tế trực tiếp do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội quyết định, thì cơ cấu thành phần kinh tế trực tiếp do bản chất của quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu quyết định.
Trong nền kinh tế, nhìn chung có hai loại sở hữu là sở hữu công và sở hữu tư. Song quá trình phát triển của lực lượng sản xuất đã làm xuất hiện hình thức sở hữu hỗn hợp. - Cơ cấu vùng kinh tế Cơ cấu vùng kinh tế là sự bố trí vùng, lãnh thổ của nền kinh tế theo lãnh thổ phản ánh sự phân công lao động xã hội về mặt không gian địa lý. Cơ cấu này do điều kiện khí hậu, tài nguyên thiên nhiên quyết định.
Ở mỗi vùng lãnh thổ được bố trí các ngành sản xuất khác nhau theo một tỷ lệ thích ứng để khai thác triệt để các ưu thế, đặc thù của từng vùng, đồng thời để hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.