Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý rủi ro cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm “Rủi ro là sự không chắc chắc liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định” (Nguyễn Văn Tiến, 2014). “Rủi ro cho vay là loại rủi ro phát sinh do khách không còn khả năng chi trả.
Trong hoạt động của công ty rủi ro cho vay phát sinh khi công ty bán chịu hàng hóa và khách hàng mua chịu thất bại trong việc trả nợ. Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro cho vay xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó” (Nguyễn Thị Mùi, 2011). Như vậy, rủi ro cho vay là khả năng có thể xảy ra tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng do khách hàng vay vốn không thực hiện được hiện được các nghĩa vụ theo đúng cam kết của mình dẫn đến việc ngân hàng có thể bị thiệt hại. Theo quan điểm của tác giả, rủi ro cho vay KHCN của NHTM là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho NHTM do KHCN vay không trả đúng hạn hoặc không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi khi đến hạn.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro cho vay khách hàng cá nhân 1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng Ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng, không phù hợp với thực trạng nền kinh tế. Chính sách cho vay của ngân hàng dành cho KHCN là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Một khi chính sách cho vay thống nhất, rõ ràng, đầy đủ và đúng đắn sẽ giúp cán bộ tín dụng xác định được nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụng.
Ngược lại khi chính sách cho vay không đầy đủ, không phù hợp với thực trạng nền kinh tế và khả năng của ngân hàng thì sẽ làm cho hoạt động tín dụng đi lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng gây nên rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Một số ngân hàng chưa xây dựng 10 được chiến lược quản trị rủi ro có khả năng thích ứng được với tình hình biến động của thị trường, đặc biệt là sự biến động theo xu hướng xấu. Do vậy, với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao trong những năm gần đây cộng với sự biến động của kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường không thuận tiện cho sự kiểm soát rủi ro tín dụng gặp nhiều khó khăn. Danh mục tín dụng của nhiều ngân hàng trong thời gian qua đã bị sự chi phối của thị trường.
Ngân hàng chưa xây dựng được cho mình danh mục tín dụng phù hợp với khả năng chịu đựng rủi ro của mình. (Phạm Xuân Hiên, 2017) Chất lượng đội ngũ thấp, phẩm chất đạo đức kém của một số cán bộ ngân hàng. Nguyên nhân đó dẫn đến việc phân tích thông tin, đánh giá khách hàng trong quá trình xác nhận thông tin, điều tra, thẩm định còn mang tính hời hợt, chủ quan duy ý chí làm cho việc tham mưu và quyết định cấp tín dụng kém chất lượng, hiệu quả thấp. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ tín dụng là nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro cho vay KHCN bởi sự hạn chế trong khả năng phân tích thẩm định phương án; kiến thức thị trường, kiến thức xã hội hạn chế có thể dẫn đến khi cho vay mà không đánh giá được liệu dự án hay phương án đó có khả thi không.
Do đó, khách hàng không có khả năng trả nợ gốc, lãi như đã cam kết. Sự buông lỏng việc giám sát và quản lý nguồn vốn sau khi vay của ngân hàng đối với khách hàng. Việc giám sát và quản lý nợ sau khi cho vay cũng là một trong những công cụ hữu ích góp phần giảm thiểu rủi ro cho vay KHCN. Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay phải được quản lý một cách chặt chẽ để đảm bảo ngân hàng thu được gốc và lãi đúng hạn.
Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay không những để khách hàng tuân thủ các điều khoản đã đề ra trong hợp đồng tín dụng đã ký mà còn là điều kiện để tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng kinh doanh. Cán bộ tín dụng là người nắm rõ nhất tình hình của khách hàng của mình, việc kiểm tra sau khi vay chính là cơ hội để chia sẻ, tâm sự, tư vấn với khách hàng, để hiểu thêm họ đang cần gì và ngân hàng có thể giúp được gì cho họ. Tuy nhiên, do tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của một số cán bộ tín dụng, cũng như do hệ thống quản lý thông tin của cá nhân còn lạc hậu, không cung cấp kịp thời những thông tin mà ngân hàng yêu cầu, vì vậy, công tác kiểm tra sau vẫn chưa được thực hiện tốt. Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công 11 sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà buông lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay.
Điều này đã làm rủi ro trong cho vay KHCN càng nhiều. Phạm Minh Tuấn (2020). Sự phối hợp giữa các ngân hàng chưa chặt chẽ. Hiện nay có nhiều khách hàng cùng một lúc cầm tài sản đi thế chấp nhiều ngân hàng để vay vốn, mà các ngân hàng vẫn không phát hiện ra điều đó cho thấy sự hợp tác giữa các ngân hàng để hạn chế rủi ro chưa thực sự hiệu quả.
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó. Sự phối hợp không chặt chẽ giữa các ngân hàng dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả các ngân hàng. Nguyên nhân từ phía khách hàng Thứ nhất là do KHCN sử dụng vốn sai mục đích, đầu tư vào các hoạt động rủi ro cao dẫn đến thua lỗ không có thiện chí trong việc trả nợ vay. Đa số các khách hàng khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án trả nợ cụ thể, khả thi.
Ngân hàng sẽ xem xét phương án đó mới đưa ra quyết định cho vay. Tuy vậy, dù không được mong đợi, nhưng rủi ro vẫn luôn hiện diện trong mọi quyết định đầu tư của khách hàng. Tùy theo mức độ nặng hay nhẹ mà rủi ro có thể gây ra những thiệt hại về tài chính nhất định, hay thậm chí có thể đẩy khách hàng vào tình trạng khánh kiệt, dẫn đến phá sản (Huỳnh Hữu Trí, 2016). Thứ hai là xuất phát từ khả năng tư duy kinh doanh của KHCN còn non kém nên hiệu quả kinh doanh không cao.
Đa số KHCN có sự quản lý rất đơn giản, phương thức quản trị chủ yếu theo nguyên tắc thuận tiện dẫn đến nguy cơ rủi ro cao. Các quyết định thường mang tính chủ quan, chủ yếu dựa vào ý chí, kinh nghiệm của cá nhân nên dễ mắc sai lầm. Chưa chú trọng đến các hoạt động phân tích, đánh giá, kiểm tra, giám sát, v.v nên không phát hiện kịp thời các sai lầm, do vậy hậu quả của quyết định sai lầm thường rất nặng nề và khó sửa chữa. Thứ ba là KHCN cố tình cung cấp sai thông tin khiến NHTM đưa ra quyết định sai.
Bên cạnh rất nhiều khách hàng minh bạch trong quá trình cung cấp thông tin cá nhân và tài sản sở hữu thì vẫn còn đó một số lượng không nhỏ khách hàng cố tình cung cấp sai sự thật về thông tin và tài sản thuộc chủ sở hữu gây khó khăn lớn 12 cho việc thẩm định năng lực tài chính của khách hàng đối với cán bộ ngân hàng trong quá trình thẩm định. Tuy nhiên, một số khách hàng cố ý lừa ngân hàng thông qua việc cung cấp những thông tin không chính xác, hay cung cấp thông tin không đầy đủ, che giấu thông tin về bản thân như: quyền sở hữu tài sản, cố ý đưa ra số liệu sai sự thật, phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình thu nhập của khách hàng. Những món cho vay trên cơ sở những thông tin giả như vậy dễ đưa đến rủi ro cho ngân hàng. Nguyên nhân từ môi trường Thứ nhất, do ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật.
Bất kỳ một ngành kinh doanh nào đều chịu sự giám sát của pháp luật, tuy nhiên việc kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ nhất của luật pháp. Sự thiếu chính xác trong việc dự đoán, tìm hiểu môi trường luật pháp trong hoạt động tín dụng cũng đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro, như dự đoán sai khu vực kinh tế được ưu tiêu đầu tư, hay bị hạn chế đầu tư, dẫn đến tình trạng sai lầm trong chính sách huy động vốn và trong chính sách cho vay. Có thể nói ràng môi trường chính trị, pháp luật ở đây không chỉ bó gọn trong phạm vi Luật các tổ chức tín dụng, mà còn liên quan tới Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp… và cũng không chỉ bó gọn trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra phạm vi quốc tế nhất là trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay. Đồng nghĩa với đó là rủi ro sẽ không còn là ở mỗi ngành ngân hàng mà lan tới tầm quốc gia, khu vực.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ cũng sẽ gây ra khó khăn, bất lợi cho cả người đi vay và ngân hàng.