CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại và vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, đặc điểm của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Tính đến thời điểm hiện tại, một số tác giả đã đề xuất các khái niệm về ngân hàng nói chung và NHTM nói riêng, dựa trên các cách tiếp cận khác nhau.
Có thể kể đến một số khái niệm như sau: Phan Thị Thu Hà (2013) cho rằng: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất định – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Nguyễn Văn Tiến (2013) cho rằng: “Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, cung cấp một số danh mục dịch vụ tài chính tổng hợp, với ba loại hình chủ yếu là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán”. Bàn về NHTM, Phan Thị Cúc (2009) cho rằng: “NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, là một tổ chức tín dụng thực hiện huy động vốn nhàn rỗi từ các chủ thể trong nền kinh tế để tạo lập nguồn vốn tín dụng và cho vay, phát triển kinh tế, tiêu dùng cho xã hội”. Trong khi đó, theo Trầm Thị Xuân Hương (2013): “NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Tại Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng (2010) quy định: “Ngân hàng 10 là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Trong đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Tổng hợp những khái niệm trên, ta có thể hiểu khái niệm NHTM như sau:“Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng mà cơ bản gồm một số dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các hoạt động thanh toán”. Đặc điểm của ngân hàng thương mại Một số đặc điểm có thể kể đến của NHTM như sau: Một là, NHTM là một tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính vì mục tiêu lợi nhuận.
Thông thường, nguồn thu của một NHTM đến từ: (i) Nguồn thu từ chênh lệch giữa chi phí bỏ ra và thu nhập thu được từ nghiệp vụ huy động vốn và nghiệp vụ tín dụng; (ii) Nguồn thu từ phí dịch vụ khi cung ứng các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, ngân quỹ, kiều hối, thu đổi ngoại tệ, thẻ, ngân hàng trực tuyến,… Hai là, vốn tự có của các NHTM thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong nguồn vốn hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đa phần các hoạt động kinh doanh của NHTM được tài trợ bằng vốn huy động từ các chủ thể bên ngoài. Ba là, các NHTM thường có tài sản tập trung vào các loại tài sản tài chính như kỳ phiếu, cổ phiếu, các hợp đồng tín dụng và các giấy tờ, tài sản có giá khác, trong khi đó, tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng tài sản của NHTM. 11 Bốn là, là một chủ thể trong nền kinh tế, hoạt động kinh doanh của NHTM chịu sự tác động, điều tiết và quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước).
Chẳng hạn, NHNN là cơ quan xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, những để thực thi chính sách tiền tệ, NHNN cần phải sử dụng các công cụ như: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tái cấp vốn, thị trường mở,… tác động trực tiếp đến hoạt động của các NHTM. Năm là, hoạt động kinh doanh của NHTM phụ thuộc vào lòng tin và mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Điều này giúp NHTM có thể dễ dàng huy động vốn từ công chung và sử dụng nguồn vốn này để cho vay. Do đó, khi long tin của khách hàng đối với NHTM giảm sút thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong huy động vốn, quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng sẽ không thể được thiết lập, đồng thời việc cung cấp các dịch vụ khác cũng gặp các khó khăn nhất định.
Vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại NHTM đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian đứng ra tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn tỗ từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để điều chuyển cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, góp phần điều tiết vốn cho nền kinh tế. Đây là cũng là hoạt động thường tạo ra thu nhập chủ yếu cho các NHTM. Hay nói cách khác, nhờ hoạt động của NHTM mà vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế.
NHTM trở thành kênh chu chuyển vốn quan trọng trong nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013): “Vốn của NHTM là các giá trị tiền tệ của chính NHTM, do NHTM huy động hay đi vay, được dùng để tổ chức các 12 hoạt động kinh doanh của NHTM như cho vay, đầu tư tài chính, bảo lãnh và các dịch vụ ngân hàng khác”. Đây cũng chính là khái niệm về vốn của NHTM được sử dụng trong luận văn này. Phân loại vốn của ngân hàng thương mại Vốn của NHTM có thể được phân loại như sau: (1) Vốn Chủ sở hữu; (2) Vốn đi vay; (3) Vốn huy động; (4) Vốn điều chuyển; (5) Vốn khác.
- Vốn Chủ sở hữu: Để bắt đầu hoạt động ngân hàng (được pháp luật cho phép), chủ NHTM phải có một lượng vốn nhất định gọi là vốn pháp định. Đây là loại vốn mà NHTM có thể sử dụng lâu dài, không phải hoàn trả, hình thành nên trang thiết bị, cơ sở vật chất, văn phòng,… Nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành nên loại vốn này rất đa dạng và tùy theo tính chất sở hữu, năng lực sinh lời của chủ ngân hàng và sự phát triển của thị trường tài chính. Nguồn vốn này bao gồm: nguồn vốn hình thành ban đầu, guồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ (Phan Thị Thu Hà, 2013). - Vốn đi vay: Bất kỳ NHTM nào cung dựa chủ yếu vào nguồn vốn huy động để có thể tổ chức hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hay nhu cầu cho vay đột xuất, mà vốn huy động không đáp ứng được, thì ngân hàng sẽ tiến hành đi vay. Vốn đi vay có thể hình thành từ vay của NHNN, vay từ các TCTD khác, vay bằng cách phát hành giấy nợ (Phan Thị Thu Hà, 2013). - Vốn huy động: Là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được NHTM tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định, sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu. NHTM huy động vốn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ: nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, nhận tiền gửi tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các công cụ nợ khác.
Thông thường, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM (Trầm Thị Xuân Hương, 2013). 13 - Vốn khác: Các các nguồn vốn nêu trên, khi NHTM đi vào hoạt động, tạo điều kiện phát sinh các nguồn vốn khác, chẳng hạn như: (i) vốn tài trợ, ủy thác từ các chủ thể trong và ngoài nước; (ii) vốn chiếm dụng phát sinh từ các dịch vụ thanh toán trong nước, dịch vụ thanh toán quốc tế, đại lý kiều hối,…; (iii) vốn điều hòa trong hệ thống NHTM điều tiết nguồn vốn từ Chi nhánh thừa vốn sang Chi nhánh thiếu vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn, cân đối vốn trong toán hệ thống NHTM, đảm bảo tính thanh khoản (Trầm Thị Xuân Hương, 2013). Huy động vốn tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn tại ngân hàng thương mại Tính đến thời điểm hiện tại, một số khái niệm về huy động vốn tại NHTM có thể kể đến như sau: Theo Trịnh Thế Cường (2018): “Huy động vốn được nhìn nhận dưới hai góc độ.
Nếu nhìn từ góc độ quản lý, có thể hiểu huy động vốn trong các ngân hàng là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm soát hoạt động huy động vốn nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Nếu nhìn từ góc độ nghiệp vụ huy động, có thể hiểu huy động vốn của ngân hàng là việc các ngân hàng thông qua các phương pháp khác nhau, bằng việc sử dụng các công nghệ khác nhau để huy động vốn tiền tệ trong nền kinh tế”. Theo Trầm Thị Xuân Hương (2013): “Vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế, được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng để kinh doanh trong một thời gian xác định, sau đó sẽ hoàn trả lại cho chủ sở hữu. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng, là nguồn vốn chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Tuy nhiên, khi đến hạn thì ngân hàng phải hoàn trả cho chủ sở hữu cả vốn gốc lẫn lãi nên vốn huy động là thành phần vốn có tính chất biến động”. Cũng theo tác giả này, nghiệp vụ huy động vốn có thể hiểu là: “ngân hàng 14 mua quyền sử dụng các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của khách hàng trong một thời gian nhất định với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và chi phí phải trả cho khách hàng dưới hình thức lãi tiền gửi”.