Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu nước ngoài Zhou và Ding (2022) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng và hành vi của nông dân trong phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh An Huy. Dựa trên dữ liệu khảo sát từ 306 nông dân ở tỉnh An Huy, Trung Quốc, nghiên cứu đã áp dụng mô hình probit hai biến dé phân tích các yếu tổ liên quan ảnh hưởng đến sự sẵn long và hành vi của nông dân trong nông nghiệp hữu cơ.
Kết quả cho thấy có mối tương quan tồn tại giữa sự sẵn sàng tham gia vào nông nghiệp hữu cơ của nông dân và hành vi của họ. Các yếu tố như trình độ học vấn của nông dân, địa vị chính trị, thu nhập khả dụng của gia đình và hiểu biết của họ về nông nghiệp hữu cơ và các mối nguy môi trường đã ảnh hưởng đáng kể đến sự sẵn sàng tham gia vào nông nghiệp hữu cơ của nông dân. Các biến số về tuổi tác, việc làm phi nông nghiệp và các yếu tố khác tác động tiêu cực đến sự sẵn sàng tham gia vào nông nghiệp hữu cơ của nông dân. Kết luận này có giá trị nhất định để hiểu rõ hơn về sự sẵn sàng tham gia vào nông nghiệp hữu cơ của nông dân và hành vi của họ, đồng thời góp phan cải cách cơ cấu phía cung ứng nông nghiệp và thực hiện chiến lược “Phục hồi nông thôn”.
Home và cộng sự (2019) đã nghiên cứu các yếu tố thúc day nông dân ở Thụy Sĩ nên chuyền đổi sang sản xuất hữu cơ. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn bán cấu trúc 39 nông dân của các trang trại trồng trọt và hỗn hợp ở các vùng sử dụng ngôn ngữ tiếng Đức (n = 24) và tiếng Pháp (n = 15) của Thụy Sĩ. Áp dụng mô hình Logit, kết qua cho thay quyết định có chuyên đồi phụ thuộc vào sự hỗ trợ kỹ thuật, năng suất, khoảng cách đến nơi tiêu thụ và hỗ trợ đầu ra sản phâm. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đê xuât rang các chiên lược khuyên khích chuyên đôi nên dựa trên hai vấn đề chính: đầu tư dé tạo ra một mạng lưới các điểm cung cấp va phân phối ở những khu vực có mật độ trang trại hữu cơ thấp; và tô chức các sự kiện thông tin, dé khuyến khích đối thoại giữa nông dân truyền thong và nông dân hữu co và nhà khuyến nông.
Dube (2016) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chuyền đổi cơ cấu cây trồng của 479 nông hộ nhỏ ở các tỉnh Manicaland và Masvingo của Zimbabwe. Mô hình Tobit chỉ ra rằng giới tính của chủ hộ, trình độ học vấn, số đơn vị chăn nuôi, khả năng tiếp cận với hệ thống tưới tiêu, thành viên nhóm nông dân, tiếp cận thị trường, kinh nghiệm canh tác, trang trại trên địa hình bằng phẳng, khuyến nông và thu nhập của hộ gia đình là những yếu tố góp phan đáng kể vào việc chuyền đổi cơ cấu cây trồng. Bên cạnh đó, chuyên môn hóa cây trồng có liên quan đáng kể đến việc làm phi nông nghiệp, độ phì nhiêu của đất, sự hài lòng của nông dân với công tác khuyến nông hàng năm, đào tạo sử dụng phương pháp tiếp cận thị trường và nhận hỗ trợ khuyến nông của tô chức phi chính phủ. Nghiên cứu của Karki và cộng sự (2011) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyên đổi sang canh tác hữu cơ tại các trang trại chè ở Nepal.
Nghiên cứu khảo sát 181 nông dân ở quận Ilam và Panchthar của Nepal, trong đó 86 nông dân là nông dân hữu cơ và 95 là nông dân thông thường. Nghiên cứu áp dụng lý thuyết TRA, TAM và TPB; và sử dụng phân tích hồi qui Binary Logistic va phân tích nhân tô EFA dé phân tích dit liệu. Kết quả cho thấy khoảng cách đến thi trường tiêu thụ, tuổi, trình độ học van, liên kết với các tổ chức và điện tích có ảnh hưởng đến khả năng áp dụng sản xuất hữu cơ. Tương tự, phân tích nhân tổ cho thay nhận thức về môi trường, triển vọng thị trường tươi sáng, lợi ích kinh tế và ý thức về sức khỏe là những yêu tố chính ảnh hưởng đến quyết định chuyền đổi sang sản xuất hữu cơ của nông dân.
Trong khi hoạch định các chương trình phát triển ngành chè hữu cơ ở Nepal, các nhà hoạch định chính sách nên xem xét sự hỗ trợ của các tổ chức nông dân, cung cấp đào tạo cho nông dân và nâng cao nhận thức của nông dân về lợi ích môi trường, kinh tế và sức khỏe của canh tác hữu cơ. Đã có rất nhiều các nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ và áp dụng các công nghệ mới và sản xuất và đời song. Trong đó có các nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các yêu tố đến quyết định áp dụng các mô hình nông nghiệp mới hoặc chuyên đổi cơ cau cây trông. Các nghiên cứu đã phân tích dữ liệu chủ yếu là phân tích hồi qui Binary Logistic, Probit và Tobit.
Các công trình nghiên cứu trong nước Nguyễn Ngọc Thùy và cộng sự (2021) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyên đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ tại huyện Ninh Sơn, Tỉnh Ninh Thuận. Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn 110 nông hộ trên địa bàn nghiên cứu. Bằng việc sử dụng mô hình hồi quy Logit, nghiên cứu đã xác định các yếu tố có tác động quyết định chuyên đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ tại huyện Ninh Son, tinh Ninh Thuận bao gồm: Khoảng cách từ nhà đến chợ/nơi tiêu thu, trình độ học vấn của người sản xuất chính, tham gia tập huấn, số người phụ thuộc trong gia đình, số lao động trong gia đình và tỷ lệ doanh thu phi nông nghiệp. Võ Thị Bích Ly (2018) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi mô hình cây trồng của các hộ dân xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.
Trên cơ sở bảng khảo sát điều tra 115 nông hộ, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS dé xây dựng mô hình hồi qui nhị phân, xác định các biến trong mô hình. Đồng thời sử dụng phân tích hồi quy dé thực hiện. Qua kết quả phân tích cho thấy các yêu tố ảnh hưởng tích cực đến quyết định chuyên đổi co cấu cây trồng của nông hộ là trình độ học vấn và trình độ kỹ thuật (tập huấn) của người sản xuất chính, các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định chuyền đổi cơ cấu cây trồng là số lao động nông nghiệp trong gia đình, số người phụ thuộc trong gia đình và diện tích đất san xuất nông nghiệp của nông hộ đó. Hà Vũ Sơn (2014), đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiễn bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của hộ nông dân.
Tác giả đã chọn mẫu phân tầng và kết hợp với chọn mẫu ngẫu nhiên để thu thập số liệu sơ cấp từ 376 nông hộ sản xuất lúa trên địa ban tỉnh Hậu Giang. Các phương pháp phân tích được sử dụng trong nghiên cứu này là thong kê mô tả, phân tích chi phí từng phần, kiểm định t-Test, phân tích hồi qui tương quan đa biến, mô hình phân tích Bianry Logistic, phân tích nhân tố, ma trận SWOT và sơ đồ Venn. Đối với mô hình Binary Logistic, tác giả đã chọn 7 biến độc lập là: Số lao động trong nông hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, tham gia tổ chức xã hội, diện tích đất sản xuất, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Nguyễn Thanh Hoa (2012), trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia mô hình sản xuất cá cảnh xiêm xuất khẩu của các hộ nuôi cá cảnh tại thành phó Hồ Chí Minh.
Tác giả đã chọn 60 mẫu, điều tra 60 hộ, bao gồm 23 hộ nuôi theo mô hình nội địa và 37 hộ nuôi theo hướng xuất khẩu, san phẩm được tiêu thụ trong nước và ngoài nước, số mẫu điều tra trong 8 quận/huyện của thành phố Hồ Chí Minh. Đề tài áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic với 10 biến độc lập, bao gồm: Lao động, hợp đồng thu mua sản phẩm, vốn, kinh nghiệm, trình độ học van, số lần tham gia tập huấn kỹ thuật, liên kết sản xuất, liên kết tiêu thụ, lợi nhuận và diện tích. Kết quả, biến điện tích có tác động làm giảm xác suất tham gia của hộ nuôi, các biến khác như hợp đồng thu mua, liên kết trong tiêu thụ, lợi nhuận, lao động, vốn, trình độ học van, diện tích có tỉ lệ chấp nhận tham gia mô hình xuất khâu cao hơn mô hình nội địa. Nguyễn Quốc Nghi (2010), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp.
Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn 375 nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh. Phương pháp phân tích hồi qui logistic và phân tích nhân tố được sử dụng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến trình độ học van, tham gia các tổ chức xã hội, tong diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp tương quan thuận với quyết định ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ. Mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp chịu tác động bởi ba nhân tố: nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội.
Đối với mô hình Binary Logistic, tác giả đã chọn 7 biến độc lập là: Số lao động trong nông hộ, trình độ học vân của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuât của chủ hộ, tham gia các tô chức xã hội, điện tích đất sản xuất, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp. Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng ứng dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật, chủ yêu nghiên cứu về cây lúa; Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định tham gia mô hình nuôi cá cảnh xiêm xuất khâu, khả năng áp dung mô hình canh tác với mô hình nghiên cứu như: mô hình hồi quy tuyến tính, mô hình semi log, mô hình Binary logistic và phân tích nhân tố EFA. Trong lĩnh vực nay, tác giả trình bay một số nghiên cứu điển hình trong các nghiên cứu đã tham khảo được.