CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số khái niệm 1. Giới thiệu chung về cây trà hoa vàng Trà hoa vàng (tên khoa học là Yellow Camellia) là tên gọi chung cho các loài có hoa màu vàng, thuộc chi Trà (Camellia L.) và thuộc họ Chè (Theaceae). Dịch chiết từ lá và hoa của cây trà hoa vàng có khả năng đặc biệt đó là ức chế tế bào tiền ung thư gan nên loại cây này được xem là dược liệu quý.
Một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng loại cây này có tác dụng trong việc giảm lượng lipid máu, rất tốt cho bệnh cao huyết áp do khả năng làm giảm và điều hòa huyết áp, tăng cường hệ miễn dịch và kéo dài tuổi thọ… Không chỉ vậy, cây trà hoa vàng còn là một loài cây cảnh được ưa chuộng do màu vàng rất đặc trưng, khó có thể tạo ra được bằng phương pháp lai hữu tính. Tại Việt Nam, trà hoa vàng là loại trà rừng, mọc hoang dại ở khắp các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta (Đỗ Văn Tuân, 2016). Cây trà hoa vàng được biết đến là một loại cây dược liệu, với các đặc điểm cơ bản sau đây: - Hình dạng: Tán cây và góc độ phân cành hẹp, điểm phân cành thấp (trung bình 50-80cm). Từ thân chính cành được chia ra làm nhiều cành cấp I (từ 3 đến 5 cành), II, III.
Thân và cành đã tạo nên khung tán của cây trà. Số lượng cành thích hợp và cân đối trên khung tán, trà hoa vàng sẽ cho sản lượng lá và hoa cao. - Thân: Cây gỗ nhỏ, thường xanh, cao khoảng 2-5m. Cành thưa, vỏ cây màu xám nhạt.
Chồi và cành non nhẵn; cành già màu nâu, nhẵn. - Lá bao chồi 5-9, thường 6, hình elip, lá đơn, mọc so le. Cuống lá khoảng 0,6-0,7 cm. Phiến lá trà hoa vàng hình elip, cứng, dày và dài, khoảng 11 x 5cm; mặt dưới lá có nhiều điểm tuyến màu đen; gốc lá hình nêm; mép lá 5 có khía răng cưa ở phần ngọn lá; ngọn lá có mũi nhọn dài 0,4-0,5 cm; 10-12 cặp gân bên.
- Cuống hoa rất ngắn, gần như không thấy. Lá bắc 6-10, xếp thành hai dãy, có lông trắng mịn ở cả hai mặt. Tràng 10-20, các tràng phía trong dính với nhau và dính vào vòng nhị ngoài. Nhị nhiều, dính nhau ở gốc chỉ nhị, nhẵn.
Bộ nhụy gồm 3 lá noãn dính nhau tạo thành bầu trên 3 ô, nhẵn; vòi nhụy 3, rời, màu vàng. Trọng lượng hoa trung bình từ 8,2-9,01 gam. - Quả nhẵn, chia 3 ô, mỗi ô 2-3 hạt. Giá trị sử dụng: Cây trà hoa vàng được sử dụng làm dược liệu, lá và hoa cây của cây trà hoa vàng Ba Chẽ được sử dụng giúp giải độc gan, thận, chống Ôxi hóa, kháng ung thư, hạ huyết áp, hạ Lipid máu… được chế biến thành các sản phẩm thô như lá, hoa sấy khô; sản phẩm khác như trà túi lọc, nước uống, viên nang, bánh trà hoa vàng… Kỹ thuật gieo trồng: - Yêu cầu điều kiện sinh thái: + Trong tự nhiên, cây trà hoa vàng Ba Chẽ sống thích nghi dưới tán rừng có chiều cao 10-15m, độ tàn che 0,55-0,7.
Thường phân bố ở các thung lũng, ven khe suối, ở nơi có độ cao 200-500 m so với mặt nước biển. + Cây trà hoa vàng có thể trồng được trên nhiều loại đất, nhưng thích hợp nhất với vùng đất bằng phẳng, tơi xốp, thoát nước, có độ pH từ 5-5,5. Đất trồng trà phải chọn nơi không chứa kim loại nặng và có nguồn nước tưới không ô nhiễm. - Thời vụ trồng: + Vụ xuân: tháng 1 - 3 + Vụ thu: tháng 8 - 9 - Mật độ, lượng giống: Từ 3.
- Sâu bệnh hại chính: Trà hoa vàng thường bị một số đối tượng sâu bệnh gây hại như: sâu róm, bọ xít, sâu cuốn lá, sâu kèn, bệnh xém mép lá,. Sâu bệnh hại xuất hiện lẻ tẻ theo mùa, không phát sinh thành dịch lớn. Khái niệm phát triển Phát triển là khái niệm được xuất hiện khá phổ biến và đã có nhiều định nghĩa được đưa ra tùy theo cách đánh giá và nhìn nhận cụ thể. Phát triển được hiểu đơn giản là quá trình tăng trưởng đi lên để đạt được mức tốt hơn, cao hơn so với trước.
Phát triển chính là sự tăng lên về quy mô và là cái đích được mong đợi. Trong bất kỳ lĩnh vực nào con người cũng luôn hướng tới sự phát triển đi lên. Phát triển về kinh tế luôn là nội dung trọng tâm được tất cả các gia trên thế giới quan tâm và chú trọng. Để phát triển kinh tế thì cần phát triển đồng bộ nhiều lĩnh vực trong đó phát triển sản xuất giữ vai trò hết sức quan trọng.
Phát triển sản xuất giúp nâng cao hiệu quả kinh tế, đóng góp lớn vào sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế của quốc gia (Trần Danh Thìn & Nguyễn Huy Trí, 2008). Phát triển theo ngân hàng thế giới (1991) đưa ra định nghĩa là đó là sự tăng trưởng về mặt kinh tế. Đồng thời còn bao gồm cả những vấn đề liên quan khác, nhất là sự tự do, sự bình đẳng về các quyền của con người và về chính trị. Còn theo tác giả Raaman (1995) thì quan niệm về phát triển lại được hiểu là quá trình thay đổi liên tục.
Quá trình thay đổi đó góp phần làm tăng trưởng mức sống của con người đồng thời giúp cho những thành quả tăng trưởng trong xã hội được phân phối cho mọi người một cách công bằng và đảm bảo (dẫn theo Trần Danh Thìn & Nguyễn Huy Trí, 2008). Ngoài ra còn có nhiều quan niệm, định nghĩa, khái niệm khác được đưa ra liên quan đến phát triển. Tuy nhiên tựu chung lại các quan điểm đều cho rằng phát triển chính là sự tăng lên về quy mô, số lượng đồng thời là sự thay đổi về mặt cấu trúc theo hướng nâng cao chất lượng. Và cái đích mà phát triển hướng tới cuối cùng là nhằm tăng hiệu quả.
Khái niệm phát triển được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phát triển nông nghiệp bền vững được nhắc đến rất nhiều trong giai đoạn hiện nay. Khái niệm này cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. 7 Theo như quan niệm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) thì đó là sự quản lý, bảo tồn về mức độ thay đổi về kỹ thuật và tổ chức giúp đảm bảo cho các nhu cầu của con người ngày càng tăng đều được đảm bảo thỏa mãn tốt nhất. Phát triển nông nghiệp bền vững có nghĩa là không không làm ảnh hưởng đến môi trường, đến tài nguyên thiên nhiên và quá trình phát triển hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đồng thời có hiệu quả về mặt kinh tế và về phương diện xã hội được chấp nhận (dẫn theo Phạm Vân Đình và cộng sự, 1997).
Phát triển sản xuất Sản xuất là hoạt động cơ bản và không thể thiếu được trong cuộc sống của con người và là mối quan tâm của toàn thể nhân loại bởi có sản xuất thì con người mới có thể tồn tại và phát triển được. Đây được xem là hoạt động của con người một cách có ý thức với mục đích tạo ra được vật chất, của cải và được thực hiện bằng cách sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động (Đỗ Đình Ca, 2006). Hay có thể hiểu theo cách khác sản xuất ở đấy là quá trình điều hòa và phối hợp giữa các yếu tố đầu vào để nhằm tạo ra được đầu ra bao gồm các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Trong đó các yếu tố đầu vào sẽ bao gồm các yếu tố sản xuất hay tài nguyên.
Phát triển sản xuất chính là quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao của đối tượng sản xuất, đồng thời là sự đi lên từ đơn giản cho đến phức tạp nó cũng bao gồm cả sự hoàn thiện của quá trình sản xuất để mang lại những kết quả mong muốn. Có thể nhìn nhận phát triển sản xuất ở 2 góc độ cơ bản, đó là: - Theo chiều rộng - Theo chiều sâu. Cụ thể chi tiết về 2 góc độ này như sau Theo chiều rộng Ở đây sẽ bao gồm các vấn đề tăng lên về quy mô như việc mở rộng diện tích đất trồng đối với sản xuất nông lâm nghiệp, cũng có thể là việc tăng 8 số lượng lao động, tăng số vốn đầu tư vào phát triển sản xuất. Ở góc độ này là nhằm tăng sản lượng bằng cách chỉ sử dụng các kỹ thuật giản đơn và không đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật mà sẽ mở rộng diện tích đất trồng.
Kết quả của chiều hướng phát triển này sẽ là tăng được diện tích và quy mô sản xuất. Theo chiều sâu Ở góc độ này, vốn đầu vào được giữ nguyên không đổi tuy nhiên quá trình sản xuất lại áp dụng các công nghệ mới, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đồng thời xây dựng cơ sở hạ tầng sao cho phù hợp nhất với điều kiện thực tế của quá trình sản xuất. Với sự phát triển này góp phần làm tăng được khối lượng sản xuất ra, và không chỉ thế còn nâng cao được hiệu quả kinh tế sản xuất. Quá trình phát triển sản xuất theo chiều sâu sẽ góp phần làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm, thay đổi đồng thời cả hình thức tổ chức sản xuất, quy mô sản xuất, và việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất.
Phát triển sản xuất theo chiều sâu còn thường gắn liền với phát triển bền vững, tăng hiệu quả kinh tế mà không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường. Các quan điểm và ý nghĩa hiệu quả kinh tế * Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Người ta rất thường hay nhắc đến trong sản xuất đó là sản xuất có hiệu quả hay không, sản xuất hiệu quả hay sản xuất kém hiệu quả. Vậy hiệu quả kinh tế ở đây được hiểu là gì? Hiệu quả kinh tế là vấn đề được rất nhiều người quan tâm và nghiên cứu. Có nhiều quan điểm khác nhau đã được đưa ra về vấn đề này.
Dưới đây là một số quan điểm phổ biến nhất: - Theo quan điểm của Mác thì hiệu quả kinh tế có thể hiểu là phân phối hợp lý và tiết kiệm được thời gian lao động.