CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu về khái niệm cơ cấu kinh tế. Trước hết, ta hãy tiếp cận bằng khái niệm "cơ cấu".
Cơ cấu là một phạm trù triết học dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Cơ cấu được biểu hiện như là tập hợp những mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố khác nhau của một hệ thống nhất định. Nó biểu hiện ra như là một thuộc tính của sự vật hiện tượng nó biến đổi cùng với sự biến đổi sự vật, hiện tượng. Vì vậy khi nghiên cứu về cơ cấu ta phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Một quan điểm khác thì cơ cấu (cấu trúc) có nguồn gốc từ chữ La-tinh “structure” là xây dựng, là kiến trúc, được sử dụng đầu tiên trong sinh vật học, dùng để chỉ rỏ cách tổ chức, cấu tạo và sự hợp đồng, điều chỉnh các yếu tố đã tạo nên các tế bào thực vật, động vật… Sau đó khái niệm “cơ cấu” này được sử dụng chung cho nhiều ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế trong một nền kinh tế quốc dân. Trong kinh tế học, cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Như vậy cơ cấu kinh tế là một tổng thể kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định và được thể hiện ở mặt định tính và định lượng, chất lượng và số lượng phù hợp với mục tiêu xác định của nền kinh tế. Từ các cách tiếp cận trên đã phản ánh được mặt bản chất chủ yếu của cơ cấu kinh tế.
Và có thể thấy rằng “cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thể những mối quan hệ về chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” (Vũ Tuấn Anh, Một số vấn đề lý luận về cơ cấu nền kinh tế quốc dân, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2/1982). Xét trên tổng thể, cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế, trong đó cơ cấu ngành là then chốt. - Cơ cấu kinh tế ngành là quan hệ tỷ lệ gắn bó hữu cơ, vừa nương tựa vào nhau, vừa chế ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân ngành cũng như giữa doanh nghiệp trong nội bộ ngành và phân ngành. Cơ cấu ngành là bộ phận động nhất trong cơ cấu kinh tế nói chung.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ là sự phân chia nền kinh tế quốc dân thành các vùng chuyên môn hóa khác nhau về chức năng (các vùng kinh tế, và tập hợp trong một hệ thống nhất các mối liên hệ qua lại lẫn nhau). - Cơ cấu thành phần kinh tế: gắn với các loại hình sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất. Tùy theo phương thức sản xuất mà có thành phần kinh tế chiếm địa vị chi phối, hay chủ đạo và các thành phần kinh tế cùng tồn tại. Từ các khái niệm trên, cho thấy cơ cấu kinh tế là tổng thể mối quan hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội.
Vì vậy cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế, gắn với vị trí, trình độ công nghệ, qui mô, tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận và mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định. Cơ cấu kinh tế ngành là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp trong các ngành. Cơ cấu ngành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Cơ cấu ngành là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân.
Thay đổi mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của các nước đang phát triển. Nhà kinh tế học Anh, Colin Clark đã phân loại toàn bộ hoạt động nền kinh tế thành ba ngành: - Ngành thứ I: sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên. - Ngành thứ II: gia công các sản phẩm được sản xuất ra có nguồn gốc tự nhiên. - Ngành thứ III: là ngành sản xuất ra của cải vô hình.
Liên hiệp quốc đã ban hành “Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ các hoạt động kinh tế” để thống nhất tiêu chuẩn phân loại ngành giữa các nước. Tiêu chuẩn này trùng hợp với phương pháp phân loại của Colin Clark. - Ngành thứ I: nông nghiệp (gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp). - Ngành thứ II: công nghiệp và xây dựng.
- Ngành thứ III: thương mại và dịch vụ. Khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân tích theo ba nhóm ngành chính: - Nhóm ngành nông nghiệp gồm: nông, lâm, ngư nghiệp. - Nhóm ngành công nghiệp bao gồm: công nghiệp và xây dựng. - Nhóm ngành dịch vụ bao gồm: thương mại, dịch vụ, bưu điện.
Ba bộ phận cơ bản hợp thành cơ cấu kinh tế là cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong đó cơ cấu kinh tế ngành có vai trò quan trọng hơn cả vì nó quyết định sự thay đổi các cơ cấu kinh tế khác. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân công lao động xã hội. Hai yếu tố này luôn luôn biến đổi và phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng.
Đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành. Tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế không đồng đều. Sự thay đổi và phát triển của cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác để phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đơn thuần là sự thay đổi vị trí mà là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra dựa trên cơ cấu kinh tế hiện có và nội dung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là cải tạo cơ cấu cũ lạc hậu chưa phù hợp để xây dựng cơ cấu mới tiên tiến, hoàn thiện và bổ sung cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại và phù hợp hơn. Như vậy thực chất của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự điều chỉnh cơ cấu của các yếu tố hợp thành nền kinh tế nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định cho từng thời kỳ phát triển. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi về chất của nền kinh tế tạo tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Tùy vào mục đích, tiêu chí lựa chọn mà chuyển dịch cơ cấu có nhiều loại như chuyển dịch cơ cấu thành phần, chuyển dịch cơ cấu vùng, chuyển dịch cơ cấu ngành.
Ví dụ như để đạt những mục tiêu của ngành sản xuất những sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chủ yếu, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân ta lựa chọn chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi, vận động không ngừng, biến đổi về cấu trúc, tỷ trọng, tốc độ giữa các ngành hợp thành nền kinh tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra thường xuyên, liên tục cùng với sự vận động của nền kinh tế để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là kết quả của sự phân bổ hay di chuyển các nguồn lực như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, công nghệ… vào các ngành phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và giữa các ngành tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khi nguồn lực di chuyển đến một ngành sẽ tác động đến đầu ra của ngành (như sản lượng, năng suất lao động) dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng của ngành so với trước và tất yếu tác động tới tăng trưởng năng suất của tổng thể nền kinh tế. Quá trình di chuyển nguồn lực đó cũng làm thay đổi cơ cấu của chính bản thân nó như vốn, lao động giữa các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu của chính nguồn lực đó. Đối với nền kinh tế quốc dân, chuyển dịch cơ cấu ngành có nghĩa là sự vận động và biến đổi của các ngành khu vực I, II, III, theo chiều hướng là tăng tỷ lệ các ngành khu vực II, III, giảm tỷ lệ các ngành khu vực I trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Các mô hình về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 1.
Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis Nhà kinh tế học người Mỹ Arthus Lewis đã đưa ra các giải thích về mối quan hệ giữa nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình tăng trưởng.