CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HIỆU QUA SỬ DỤNG VON LƯU DONG CUA DOANH NGHIEP.1 Khái quát về vốn lưu động trong doanh nghiệp.1 Khái niệm vốn lưu động. SV: LÊ THỊ KHÁNH LINH Lớp: Tài Chính Công 57 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thùy Dương Từ trước tới nay, dé bắt đầu thực hiện một hoạt động nào liên quan tới kinh doanh hay sản xuất thì chắc chắn là cần có vốn. Có thé nhận định răng, vốn là nhân tố thiết yêu cho sự duy trì và phát triển đối với vận hành kinh doanh sản xuất trong doanh nghiệp (DN).
Vậy nên cần đặt ra câu hỏi là nên hiểu vốn là gì? và cần một lượng vốn bao nhiêu là đủ để các doanh nghiệp đảm bảo cho tiến trình kinh doanh của mình có thé đạt đến điểm thuận lợi trơn tru. Vốn được hiểu theo rất nhiều quan niệm khác nhau, với từng thời điểm, đều có một chút khác nhau trong việc định nghĩa về vốn. Vốn của các DN được coi như một quỹ tiền tệ đặc trưng. Dựa trên quan điểm của Mark và góc nhìn nhận ở góc độ lấy cơ sở là yếu tố sản xuất cho kết luận là: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thang dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”!.
Thế nhưng, đứng trên quan điểm của Mark, ông nhận định rằng chỉ sản xuất vật chất mới tạo ra được các giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Chính điểm này là điểm yếu còn tổn tại vô cùng rõ ràng trong quan điểm của Mark. Vốn hiện vật: Là việc tích trữ các nguyên vật liệu, các yếu tố cần thiết cần dùng cho sự ra đời các hàng hóa khác. Vốn tài chính: Các tài sản của doanh nghiệp gồm tiền và các tài sản khác.
Vốn được coi như là một trong những loại hàng đặc biệt vì vốn có giá trị sử dụng và cũng có giá trị xác định riêng. Trong quá trình vốn được sử dụng, nó không bị hao mòn hữu hình mà còn có thé mang lại giá trị lớn hơn giá trị cũ. hải tích lãy nguồn vốn đến một lượng đủ mới có thé đưa vào đầu tu cho kinh doanh, phải luôn để vốn ở trạng thái hoạt động sinh lời. Nguồn vốn trong doanh nghiệp chia thành vốn có định và vốn lưu động.
Vốn có định: Vốn cé định trong DN là biểu hiện băng tiền của phần TSCD dựa trên một phan ứng trước của vốn đầu tư mà đặc trưng chính là phân bổ từng chút từng chút trong nhiều giai đoạn sản xuất và kết thúc một kỳ hoạt động khi TSCĐ hoàn tất thời gian vận hành. Vốn lưu động: 1:theo quan điểm của Mark về vốn. SV: LÊ THỊ KHÁNH LINH Lớp: Tài Chính Công 57 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thùy Dương Vốn lưu động (VLĐ) là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông, tồn tại và vận hành trong tất cả tiến trình kinh doanh và giá trị của nó có khả năng trở lại hình thái vốn có sau mỗi chu kỳ luân chuyên hàng hóa.
Vốn lưu động là một trong những điều kiện thiết yếu bắt buộc cần có trong chu trình sản xuất, kinh doanh và tham gia trong tat cả các quy trình chu chuyền, biểu hiện dưới nhiều dạng riêng biệt dé đưa ra được mức vốn lưu động đồng nhất và thích hợp. Vốn lưu động là thước đo kiểm tra và đồng thời thé hiện chu trình vận hành của vật tư. Vốn lưu động chu chuyên chậm hoặc nhanh sẽ thê hiện trực tiếp đã sử dụng tiết kiệm số vật tư hay chưa và thời gian hoạt động của khâu lưu thông và sản xuất đã thích hợp hay chưa. Vì vậy, qua việc xem xét tình hình phân bổ VLD ta có thé kiểm tra việc sản xuất, mua bán tồn trữ hàng hoá trong DN.
Sử dụng vốn là hoạt động vô cùng trọng yếu, góp phần quyết định sự tăng trưởng và khả năng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp. Trong hoạt động này, doanh nghiệp cung cấp vốn nhăm bồ sung và thành lập những tài sản thiết yếu trong việc tiến tới mục đích sản xuất kinh doanh cùa mình. Điều đó được phản ánh thông qua cơ cấu và sự biến động của nguồn vốn. Mỗi loại hình doanh nghiệp có các hình thức sử dụng vốn khác nhau cốt là dé phù hợp với loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực cũng như ngành nghề kinh doanh.
Tiến hành phân loại vốn nhằm mục đích quản lý, nghiên cứu, kiểm tra tiến trình phát sinh các loại chi phí DN phải chi ra trong chu kỳ kinh doanh sản xuất.2 Phan loại vốn lưu động. Có nhiều phương thức có thê phân loại vốn lưu động, còn phụ thuộc vào từng tiêu chí mà đưa ra những phương pháp phân loại khác nhau: Thứ nhất là theo vai trò: - Trong khâu dự trữ sản xuất: gồm tổng hợp các khoản giá trị nguyên vật liệu (gồm cả chính và phụ), dụng cụ hay động lực, phụ tùng thay thế, nhiên liệu và công cụ. - Trong khâu sản xuất: VLĐ loại này bao gồm giá trị của bán thành phẩm, các sản phẩm dở dang hay các khoản chi phí đang chờ kết chuyền. Theo hình thức thé hiện: - Vốn vật tư, hàng hóa: vốn lưu động thé hiện dưới hình thức là vat phẩm cụ thé như sản phẩm do dang, nguyên hay nhiên vật liệu, thành phâm hoặc bán thành pham,.
5 SV: LÊ THỊ KHÁNH LINH Lớp: Tài Chính Công 57 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thùy Dương - Vốn bằng tiền: là các khoản biểu hiện bang tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tồn quỹ, khoản dau tư chứng khoán. Theo quan hệ sở hữu: - Vốn chủ sở hữu: doanh nghiệp sở hữu lượng vốn lưu động và nắm giữ mọi quyền hạn với loại vốn này như quyền sở hữu, quyền chi phối, quyền định đoạt và quyền sử dụng. Có nhiều vốn chủ sở hữu khác nhau tùy loại hình doanh nghiệp như do doanh nghiệp tư nhân tự góp nên, từ ngân sách nhà nước, góp vốn theo hình thức cổ phan đối với công ty cô phan,.
Theo nguồn hình thành - Vốn điều lệ - Vốn tự bố sung - Vốn liên doanh, liên kết - Vốn đi vay P R - P Vốn lựu thông Von lưu động sản xuat Vốn Vốn thành Vốn trong trona SX pham thanh toán Vốn lưu động định Vốn LB không định Sơ đồ 1.1: Sơ đồ cơ cau vốn lưu động của doanh nghiệp.3 Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp. Dé bat đâu việc sản xuat , cân có các TSCD là các loại máy móc, công cụ, nhà xưởng, thiệt bi thì DN bat buộc phải có một sô von lưu động theo định mức băng tiên mặt đê luân chuyên và chuân bị các loại nguyên nhiên vật liệu, công cụ,.với mục 6 SV: LÊ THỊ KHÁNH LINH Lớp: Tài Chính Công 57 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thùy Dương đích sử dụng cho tiến trình kinh doanh. Do vậy, VLĐ là một trong những điều kiện đầu tiên và tiên quyết đưa doanh nghiệp tiến tới hoạt động, theo một cách khác VLD là một trong những nhân tố thiết yếu ban đầu dé một DN có thé bắt đầu vận hành một cách trơn tru.
Vốn lưu động là cơ sở giúp nhà quản trị quyết định quy mô hoạt động của doanh nghiệp. Việc mở rộng quy mô sản xuất có nghĩa là doanh nghiệp sẽ cần mở rộng quy mô của nhà xưởng, các loại công cụ máy móc, ngoài ra còn phải mở rộng việc thu mua các loại hàng hóa, nguyên vật liệu tương ứng. Ngay các tiến trình tái sản xuất của doanh nghiệp cũng cần có sự đảm bảo của vốn lưu động dé có thé hoạt động liên tục. VLD cũng giúp DN có thé liên tục dự trữ các loại vật tư thiết yếu, ngoài ra việc có một lượng vốn lưu động lớn giúp DN có thể mạnh tay chớp lấy các cơ hội trong kinh doanh và điều đó giúp doanh nghiệp có thêm tạo lợi thế cạnh tranh.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
Khi phân tích về cơ sở của hiệu quả sử dụng vốn lưu động, theo các quan điểm đã từng được đưa ra trước đó, về cả thực tế sống hay các lý luận đều cho răng lao động sản xuất đưa tới kết quà là sáng tạo ra được các giá trị thặng dư; không tính đến các yếu tô như tài nguyên cơ bản hay đất đai, đồng thời xem nhẹ yếu tố vốn. Vậy nên khi nghiên cứu và xem xét về yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của sản xuất thì hầu như chỉ phân tích và xem xét dựa vào ba yếu tô cơ bản nhất đó là: máy móc thiết bị, nguyên nhiên liệu và yếu tô lao động, trong ba yếu tố trên thì lao động được coi là cơ bản nhất. Chính điều này đã dẫn đến cần đưa ra một cách trọn vẹn hơn về bản chất của hiệu quả sử dụng vốn. Trước hết là các quy tắc được đưa ra cần phải tuân thủ không loại trừ bất cứ một doanh nghiệp kinh doanh đó là: “đầu vào”! và “đầu ra” “hai yếu tố này tồn tại bởi thị trường là các câu hỏi được đưa ra, nó bắt nguồn từ yêu cầu của thị trường mà không phải từ chủ quan hay khách quan của doanh nghiệp, và với các học thuyết ngày nay được đưa ra, có thể thiểu theo quan hệ cung — cầu và quan hệ lợi ích thực té của doanh nghiệp.
Việc nắm giữ quyền sở hữu và quyền chi phối là tách rời nhau. Theo 1 :khái niệm hiệu quả sử dụng vốn ? :khai niệm sử dụng vốn SV: LÊ THỊ KHÁNH LINH Lớp: Tài Chính Công 57 Chuyên đề thực tập GVHD: PGS. Nguyễn Thị Thùy Dương một cách hiểu trực quan hơn thị trường quyết định các yếu tố và các mối quan hệ trong sản xuất của DN. Thị trường ở đây bao gồm đủ hình thức như thị trường về vốn, thị trường mua bán, thị trường lao động.
Mặt khác, đi vào xem xét các chỉ tiêu thuộc về hiệu quả sử dung VLD trong cơ chế vận hành thị trường của doanh nghiệp lại xuất hiện một số quan điểm mang tính chất khác biệt. Với những người góp vôn hoặc mua cô phiêu còn được gọi là các nhà đâu tư trực tiép có nhận định răng tiêu chuân đánh gia dùng cho hiệu quả von đâu tư với họ là tỷ sO gia tăng của cô phiêu mà họ năm trong tay va tỷ suât lợi nhuận sinh ra trên một đông vôn cô đông. Còn đối với nhà đầu tư gián tiếp ở đây là tổ chức hoặc quỹ cho vay, cũng có thé là những cá nhân thì lại cho rằng cần phải lưu ý đến vấn đề giá trị có được bảo toàn không trên cơ sở thực tế của những đồng vốn cho vay theo thời gian.