Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mai Việt Nam Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam Chương 3: Sử dung mô hình phân tích số liệu mảng phân tích các yếu tô ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. 11171747- Mai Trung Anh 3 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng “Ngân hàng thường được coi là hệ tuần hoàn vốn của nền kinh tế từng quốc gia và toàn cầu. Đặc biệt trong nền kinh tế hiện nay, ngân hàng là một bộ phận không thể thiếu được với hoạt động chủ yếu là tiền tệ, tín dụng và thanh toán, trong đó thanh toán giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Mặc dù không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song với đặc điểm hoạt động riêng có của mình, ngành ngân hàng giữ một vai trò quan trọng trong việc thúc đây sự phát triên của nên kinh tê.” Berger và Mester (1997) coi hiệu quả hoạt động của các NHTM thé hiện ở mối quan hệ giữa doanh thu dau ra và chi phí sử dụng các nguồn lực đầu vào hay nói cách khác chính là khả năng biến các nguồn lực đầu vào thành các dau ra tốt nhất trong hoạt động kinh doanh của các NHTM. Cụ thé ở việc các NHTM tao ra doanh thu đầu ra lớn nhât với giá trị các nguôn lực đâu vào nhỏ nhất. Khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khang định ban chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực dé đạt được mục tiêu cuối cùng — mục tiêu tôi đa hóa lợi nhuận. Trong hoạt động của các NHTM, theo Nguyễn Việt Hùng (2008) hiệu quả hoạt động được hiểu qua 2 khía cạnh sau: - Khả năng biến đổi các yêu tô đầu vào thành các yếu tố đầu ra, hay khả năng sinh lời, hoặc giảm thiểu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác.
- Xác suât hoạt động an toàn của các ngân hàng. Hoạt động của ngân hàng là hoạt động kinh doanh, có vai trò và chức năng đặc biệt trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của ngân hàng có thé được đo lường, đánh giá trên những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh doanh của ngân hàng, đó chính là hiệu quả hoạt động.
Hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể được xem là kết quả về lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó, lợi nhuận là lý do cho sự tổn tại tiếp tục tất cả các tô chức kinh doanh trong đó có cả NHTM. 11171747- Mai Trung Anh 4 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế 1. Tông quan về các nghiên cứu liên quan Ở nước ngoài, phương pháp phân tích định lượng đã được sử dụng nhiều trong các phân tích ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng từ rất lâu.
Như trong nghiên cứu cua Berger và các cộng sự (1987) nghiên cứu quy mô của 413 chi nhánh NHNN và 241 NHTM nhà nước, nghiên cứu của Drake va Hall (2000) đánh giá hiệu quả tại ngân hang Nhật Bản, nghiên cứu đánh giá hiệu quả chi phí, hiệu quả quy mô và tiễn bộ công nghệ cho các ngân hàng ở Pakistan của Burki và Niazi năm 2003. Ở Oman, tác giả Tarawneh (2006) cũng nghiên cứu về một số yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Mục đích của nghiên cứu này chính là để phân loại các NHTM ở Oman dựa trên cơ sở đặc điểm tài chính của họ thé hiện qua những chỉ tiêu tài chính. Tổng cộng có năm NHTM Oman với hơn 260 chi nhánh được phân tích tài chính và các hồi quy đơn giản được sử dụng dé ước tính tác động của việc quản lý tài sản, hiệu quả hoạt động và quy mô của ngân hàng lên hoạt động tài chính của các ngân hàng.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng có tổng số vốn, tiền gửi, tín dụng hoặc tổng tài sản cao hơn không có nghĩa là luôn luôn có hiệu suất lợi nhuận tốt hơn. Nghiên cứu của Yong Tan và Christos Floros (2012) phân tích các yếu tô ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 101 NHTM ở Trung Quốc trong khoảng thời gian 2003-2009. Bài nghiên cứu thực hiên hồi quy với biến phụ thuộc lần lượt là ROA và NIM, sử dụng phương pháp hồi quy với các biến công cụ GMM thay vì sử dụng mô hình tác động có định hoặc ngẫu nhiên như các nghiên cứu trước. Bài nghiên cứu này nghiên cứu yếu tố về hiệu qua chi phí, các hoạt động phi truyền thống, sự phát triển của ngành, sự phát triển của thị trường chứng khoán và lạm phát đều có ảnh hưởng đên khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Trung Quoc.
Sử dụng mô hình DEA đề nghiên cứu các nhân té tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hang thì có các nghiên cứu của Chen (2005) đánh giá sự thay đôi của hiệu quả kỹ thuật và nhân tố năng suất tổng hợp; đồng thời sử dụng mô hình hồi quy dé đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM của Đài Loan thời kỳ khủng hoảng tài chính Châu Á. Ngoài ra còn có Tunisia có Naceur (2005), Zeitun(2012) ở các nước Vùng Vịnh tuy nhiên lại chỉ tập trung ở một số chỉ tiêu như: loại hình sở hit, quy mô và xem xét ảnh hưởng của ROA, ROE. Ngoài các bài nghiên cứu ở nước ngoài thì tại Việt Nam cũng có những nghiên cứu về đề tài này. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích truyền thống dé phân tích.
Vi dụ như nghiên cứu của Lê Thị Hương 11171747- Mai Trung Anh 5 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế (2002), với đề tài “Nâng cao hiệu quả đầu tư của các NHTM Việt Nam” mới đưa ra một số dữ liệu thống kê về thi phần, tổng du nợ tin dụng cũng như đóng góp của các NHTM trong nền kinh tế, từ đó nhận định về thực trang và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM. Điền hình trong phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM chính là bài nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng (2008) sử dụng mô hình hồi quy Tobit để đánh giá hiêu quả hoạt động của các NHTMCP Việt Nam với dữ liệu của 32 NHTM từ năm 2001-2005. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiền gửi/cho vay, có tác đông ngược chiều, biến quy mô ngân hang, tủ lệ vốn chủ sở hữu/tống tài sản và thị phan tài sản tác động dương đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP. Năm 2010 có nghiên cứu của Trương Quang Thông dùng mô hình S-C-P đánh giá các yếu tố tác động đến hiệu năng hoạt động của NHTM Việt Nam, kết quả cho thay cơ cấu thu thập lãi/tổng thu nhập, tỉ lệ tài sản có ngoại tệ/tổng tài sản tác động ngược chiều đến ROA, cho vay trung dai hạn/tổng cho vay, thị phan tài sản có tác động cùng chiều đến ROA.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngân (2013) sử dụng phương pháp DEA để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam trong thời gian 2009-2011 của 34 ngân hàng, kết quả cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng giảm qua các năm dé từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả. Một nghiên cứu khác của Trần Hoàng Ngân và cộng sự (2015) đánh giá ảnh hưởng của tái cau trúc đến hiệu quả hoạt động của 17 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007 - 2013. Ba biện pháp tái cau trúc được dé cập là sáp nhập, can thiệp của Chính phủ và cổ phan hóa. Mô hình nghiên cứu được sử dụng là DEA/SEA 3 giai đoạn được sử dụng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, do các NHTM vẫn đang trong tiến trình tái cấu trúc nên hiệu quả hoạt động của các NHTM tăng giảm không theo quy luật. Các NHTM thực hiện hợp nhất và sáp nhập có hiệu quả giảm do phải gánh các NHTM nhỏ, yếu. Các NHNN hoạt động kém hiệu quả khi có sự can thiệp của chính phủ, NHNN được cô phần hóa hoạt động kém hiệu quả hơn khi chưa cô phan. Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu ở trên cho thấy, việc xem xét một cách tong thé và xác định những nhân tổ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam là hết sức quan trọng và có giá trị.
Bởi vì, nó sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định. Qua đó nó cũng là cơ sở dé hoàn thiện được một khung chính sách hợp lý trong quá trình quản lý hoạt động của các ngân hàng ở Việt Nam thời kỳ hội nhập. 11171747- Mai Trung Anh 6 Chuyên dé thực tập chuyên ngành Toán kinh tế 1. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, hiệu quả hoạt động của ngân hàng được thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá như: tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi suất ròng cận biên (NIM).
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài san (ROA) Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập trên tông tài sản thể hiện mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và tài sản của ngân hàng. ROA đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cung cấp cho các nhà đầu tư về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư hay lượng tài sản. Đối với bất kỳ ngân hàng nào, ROA cũng phụ thuộc vào quyết định chính sách của ngân hàng cũng như các yếu tố không thể kiểm soát liên quan đến nền kinh tế và quy định của chính phủ. ROA là tỷ số thu nhập ròng trên tổng tài sản (Return on total assets).
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Công thức tính của tỷ số này như sau: lợi nhuận ròng ROA =—————— tổng tài sản ROA càng cao thì càng tốt vì ngân hàng đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.