phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của bài nghiên cứu được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết. 6 NỘI DUNG CHƢƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ XX 1. Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX Về kinh tế, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản cạnh tranh, đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ.
Từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các nước phương tây đã tăng cường tiến hành các cuộc xâm lược thuộc địa và “miếng bánh thế giới đã bị phân chia xong”. Sự xâm lược thuộc địa của các nước tư bản đã làm nảy sinh mây thuẫn dân tộc giữa dân tộc áp bức và dân tộc bị áp bức. Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng của các quốc gia phương Tây đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên, cũng dẫn đến những tác động tiêu cực.
Đồng thời, nó không thể biện hộ cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc. Các quốc gia phương Đông trực tiếp chịu sự đe dọa và xâm lược của các nước đế quốc phương Tây. Một số quốc gia chịu sự ảnh hưởng của mô hình nhà nước tập quyền chuyên chế của nền văn minh Trung Hoa như Triết Tiên, Nhật bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với các hình thức khác nhau và dần rơi vào bế tắc, khủng hoảng. Ở các nước phương Đông, mô hình kinh tế dựa trên nền nông nghiệp lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp giữa đơn vị kinh tế hộ gia đình và cộng đồng công xã nông thôn.
Mặc dù thủ công nghiệp và thương nghiệp ra đời sớm và phát triển, tuy nhiên nó không tạo sự thay đổi mô hình phát triển, bởi bị cản trở do các chính sách của nhà 7 nước phong kiến như “trọng nông ức thương”, “nông vi bản, thương vi mạt”, “bế quan tỏa cảng”. Cơ cấu xã hội điển hình của các quốc gia phương Đông gồm các giai cấp, tầng lớp: vua chúa, quý tộc, quan lại, nông dân, nông nô, trí thức chủ yếu là nho sĩ, cao tăng, thiển sư, thợ thủ công, thương nhân. Sự xâm lược của các nước phương Tây đã khiến các quốc gia phương Đông có nhiều thay đổi và dần tạo ra những mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mầm mống của một cơ cấu xã hội mới, kiến trúc thượng tầng mới. Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam Nửa cuối thế kỷ XIX, nước Pháp nhanh chóng bước vào giai đoạn phát triển chủ nghĩa đế quốc và thành công trong việc hình thành một hệ thống thuộc địa lớn thứ hai sau Anh.
Trong 25 năm từ 1858 đến 1883, Pháp xâm lược Việt Nam và bắt tay vào khai thác thuộc địa với mục đích tối cao là biến Đông Dương thành thuộc địa khai khẩn trọng yếu, mang lại lợi nhuận cao nhất cho chính quốc. Trong quá trình xâm lược, Pháp sử dụng nhiều chính sách trong đó có “chia để trị”. Việt Nam bị chia cắt thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là hai xứ bảo hộ về hình thức vẫn còn giữ lại chính quyền phong kiến, Nam Kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp nắm quyền cũng Lào và Campuchia. Hệ thống chính quyền dưới tỉnh là phủ, huyện, xã trên lãnh thổ Việt Nam đề do người Việt quản lý, với các chức tri phut, tri huyện, tri châu, chánh tổng, xã trưởng, lý trưởng.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918), với tư cách là một nước thắng trận, Pháp ra sức khai thác thuộc địa, chủ yếu ở Đông Dương và Châu Phi. Pháp chủ trương tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào cai trị. Các chính sách của Pháp nhằm lôi kéo một bộ phận nhỏ trong giới thượng lưu người Việt Nam gồm một số nhà tư sản và địa 8 chủ lớn vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta, làm cho tình hình chính trị và sự phân hóa trong xã hội ở Việt Nam càng thêm gay gắt. Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thời phong kiến của Việt Nam dưới sự tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp áp đặt vào dần chuyển sang nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa, có sự phát triển nhanh chóng và tạo ra một cơ cấu kinh tế mất cân đối dẫn đến sự phân hóa không triệt để của cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Từ cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam xuất hiện một bộ phận tư sản, quan cai trị người Pháp. Kết cấu xã hội Việt Nam theo tứ dân: sĩ, nông, công, thương bị xóa bỏ, thay vào đó là sự phân chia giai cấp dựa vào quyền lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng theo phương Tây, gốm các giai cấp cơ bản: giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân, giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại ba hình thức khác nhau tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Ở Nam Kỳ, chữ Hán hầu như bãi bỏ, đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp – Việt dạy chữ Pháp và chữ Quốc ng ữ.
Ở Bắc Kỳ và nh ất là Trung Kỳ, các trường lớp dạy chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi, trường dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ rất ít. Do ba ch ế dộ giáo dục khác nhau khiến người Pháp gặp khó khăn trong việc thống nhất chính sách cai trị nên Pháp đã thực hiện các cuộc cải cách giáo dục. Năm 1906, cải cách giáo dục lần th ứ nhất do toàn quyền P.Beau kh ởi xướng và chỉ đạo, giáo dục Pháp – Việt và giáo dục Nho giáo cùng t ồn tại. Cuộc cải cách giáo d ục lần thứ hai được chính quyền thuộc địa tiến hành từ năm 1917 đến năm 1929 với mục đích xóa bỏ nền giáo dục Nho giáo, xác lập và củng cố nền giáo dục Việt Nam do người Pháp thóng nhất, tổ chức và nhằm phục vụ mục đích nô dịch của người Pháp.
9 Văn hóa, nghệ thuật, các trào lưu tư tưởng, thành tựu khoa học và kỹ thuật phương Tây du nhập vào Việt Nam thông qua sách báo trong và ngoài nước, góp phần thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa hai nền văn hóa Á – Âu, Đông – Tây, có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa những yếu tố văn hóa truyền thống và văn hóa ngoại lai. Hoạt động báo chí, văn hóa, các cơ sở sản xuất, mua bán tài liệu, sách báo phát triển và phổ biễn trên cả nước. Nhiều ấn phẩm văn hóa tiến bộ đã góp phần phản ánh được nguyện vọng tự do, dân chủ, nhân đạo, yêu nước của nhân dân, được đông đảo thanh niên hưởng ứng. trở thành động lực quan trọng của cao trào đấu tranh đòi tự do dân chủ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX.
Khủng hoảng về đƣờng lối cứu nƣớc ở Việt Nam đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng không mang lại kết quả. Năm 1885, phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi khởi xướng được sự hưởng ứng của cả ba miền đất nước, sỹ phu khắp nơi nổi dậy giúp vua chống Pháp nhằm khôi phục lại nền độc lập. Trong đó, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng. Khởi nghĩa Phan Đình Phùng kéo dài 10 năm nhưng cuối cùng cũng đi đến thất bại.
Khởi nghĩa Hương Khê 1896 thất bại đã kết thúc giai đoạn cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến. Trào lưu dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX nước ta chịu ảnh hưởng của phong trào vận động cải cách duy tân của thế giới và khu vực, lãnh đạo là một bộ phận tiểu tư sản yêu nước, trí thức tiến bộ. Phan Bội Châu chủ trương chống đế quốc, giành độc lập dân tộc mà trước mắt là mục tiêu chống phong kiến. Ông khởi xướng phong trào Đông Du, chủ trương dựa vào nhật, cầu viện Nhật để chống thực dân Pháp.
Trái với Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chủ trương chống đế quốc, giành tự do, dân chủ bằng phương pháp ôn hòa, dựa vào Pháp để chống phong kiến. Các phong trào duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi 10 xướng nhằm đổi mới chính trị và văn hóa đất nước để đi tới độc lập tự chủ. Phong trào này chủ trương “ỷ Pháp, cầu tiến bộ”, dựa vào sự giúp đỡ của đế quốc Pháp nhằm thực hiện “dân quyền”, “dân chủ” ở nước ta. Phương pháp tiến hành cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo đã phân hóa phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam thành hai xu hướng: bạo động mang tính chất truyền thống và cải cách tư sản mới mẻ.
Trên cơ sở đó, nhiều phong trào cứu nước mang sắc thái, hình thức hoạt động đa dạng nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền khởi xướng với mục tiêu truyền bá nền văn hóa mới để thực hiện chủ nghĩa yêu nước mới. Tuy nhiên các phong trào này đều lần lượt đi đến thất bại. Có thể thấy, tuy các phong trào yêu nước có xu hướng tư sản đều bộc lộ những hạn chế, sự bế tắc, không phát triển được và đi đến thất bại, nhưng chúng đã góp phần cổ vũ, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân dân, nhất là thanh niên, trí thức, học sinh. Như vậy, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước đều thiếu giai cấp tiên tiến lãnh đạo, tập hợp, thiếu lý luận tiên tiến dẫn đường.
Do vậy, cần một lý luận mới, một bộ phận lãnh đạo có thể giải quyết được các vấn đề trước mắt và lâu dài. Những đặc điểm và chuyển biến trong chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam và thế giới là những điều kiện khách quan cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930. Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tƣ tƣởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 1. Quan niệm dân tộc trong lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam Thời phong kiến, dân được hiểu theo nghĩa thường dân.