Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học với đề tài "Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930" được thực hiện tại Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (khóa QH-2016-X, hoàn thành năm 2020 dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Hạnh). Công trình tập trung làm rõ logic phát triển và bước chuyển biến mang tính quy luật trong thế giới quan, lập trường chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn khảo sát, lựa chọn con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam.

  • Lý do chọn đề tài: Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước trên nền tảng kết tinh văn hóa dân tộc và trí tuệ thời đại. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng của Người, việc tiếp cận dưới góc độ lịch sử tư tưởng triết học để làm rõ quá trình chuyển biến tư tưởng trong giai đoạn 1911–1930 vẫn là một hướng nghiên cứu cần thiết, giúp lý giải cơ sở hình thành đường lối cách mạng giải phóng dân tộc và vai trò định hướng của tư tưởng đối với thực tiễn cách mạng.
  • Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm sáng tỏ sự chuyển biến trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911–1930; từ đó rút ra các nhận xét về giá trị, ý nghĩa của quá trình này đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam và sự nghiệp cách mạng dân tộc.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề khách quan, chủ quan hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911–1930.
    2. Phân tích sự chuyển biến tư tưởng của Người trong giai đoạn này về hai nội dung căn bản: vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải phóng dân tộc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1930.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn nghiên cứu sự chuyển biến tư tưởng thông qua các văn kiện, bài báo, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc được in trong Hồ Chí Minh toàn tập (Tập I, Tập II và Tập III; NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và quan điểm nền tảng: Đề tài được xây dựng trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khóa luận đặc biệt dựa trên các luận điểm kinh điển về hình thái kinh tế - xã hội, giai cấp, đấu tranh giai cấp và lý luận về dân tộc - thuộc địa trong tác phẩm Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa các kết quả nghiên cứu lịch sử tư tưởng từ các công trình nghiên cứu cấp Nhà nước (như chương trình KX.01, KX.11) và các nghiên cứu của Ban Chấp hành Trung ương, Trần Văn Giàu, Song Thành, Phạm Văn Đồng, Phan Ngọc Liên.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp nghiên cứu văn bản học: Khảo sát, phân tích các văn kiện, tác phẩm báo chí và thư từ lưu trữ của Nguyễn Ái Quốc.
    • Phương pháp lịch sử - cụ thể kết hợp logic - lịch sử: Tái hiện quá trình nhận thức của nhân vật gắn liền với tiến trình biến đổi kinh tế, chính trị xã hội đầu thế kỷ XX.
    • Phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp: Đối chiếu các quan điểm cứu nước truyền thống với quan điểm cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc.
    • Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Khái quát hóa từ các hiện tượng thực tiễn thành luận điểm lý luận triết học.
  • Nguồn dữ liệu: Văn bản trong Hồ Chí Minh toàn tập (tập I, II, III), các văn kiện của Quốc tế Cộng sản, các tài liệu hồi ký lịch sử (Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên) và các công trình nghiên cứu chuyên khảo về lịch sử Việt Nam cận - hiện đại.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Điều kiện, tiền đề cho sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930

Chương này tập trung trình bày các điều kiện kinh tế - xã hội khách quan và tiền đề tư tưởng - lý luận làm cơ sở cho bước chuyển biến trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc.

Nhóm yếu tố Nội dung cụ thể trong văn bản khóa luận
Bối cảnh thế giới Chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc độc quyền; hệ thống thuộc địa bị phân chia hoàn tất; mâu thuẫn giữa các dân tộc áp bức và dân tộc bị áp bức trở nên gay gắt. Các nước phương Đông lâm vào khủng hoảng thể chế quân chủ chuyên chế phong kiến.
Bối cảnh Việt Nam Thực dân Pháp áp đặt chính sách "chia để trị", chia Việt Nam thành 3 kỳ với quy chế khác nhau (Bắc Kỳ, Trung Kỳ là xứ bảo hộ; Nam Kỳ là đất thuộc địa). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch sang thuộc địa - tư bản, làm nảy sinh các giai cấp mới: công nhân, tư sản, tiểu tư sản bên cạnh địa chủ và nông dân. Chính sách cải cách giáo dục các năm 1906 (toàn quyền P. Beau) và 1917–1929 nhằm mục đích nô dịch.
Khủng hoảng đường lối cứu nước - Phong trào Cần Vương (1885) thất bại sau khi khởi nghĩa Hương Khê (1896) của Phan Đình Phùng tan rã, đánh dấu sự phá sản của hệ tư tưởng phong kiến.
- Khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX: Phong trào Đông Du dựa vào Nhật của Phan Bội Châu ("đuổi hổ cửa trước rước báo cửa sau"); Phong trào Duy tân cải cách ôn hòa của Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp ("ỷ Pháp cầu tiến bộ", "xin giặc rủ lòng thương"); phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền. Các phong trào đều thất bại do thiếu đường lối lý luận tiên tiến và giai cấp cách mạng dẫn đường.
Tiền đề tư tưởng dân tộc Việt Nam Ý thức độc lập từ thời Lý Bí (quốc hiệu Vạn Xuân, thế kỷ VI), Chiếu dời đô (1010) của Lý Công Uẩn, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt khẳng định chủ quyền lãnh thổ gắn với thiên thư, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn gắn quyền lợi dân tộc với sinh mệnh nhân dân, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi xác lập 4 yếu tố cấu thành quốc gia: lãnh thổ, văn hiến, phong tục, lịch sử. Bước tiến tư tưởng về "quốc dân" của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.
Tiền đề lý luận Mác - Lênin - C. Mác và Ph. Ăng-ghen phân tích sự phát triển của cộng đồng người (thị tộc $\rightarrow$ bộ lạc $\rightarrow$ bộ tộc $\rightarrow$ dân tộc tư sản), xác lập sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản và mối quan hệ giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc.
- V.I. Lênin phát triển học thuyết thuộc địa qua Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa (12 điểm), khẳng định quyền dân tộc tự quyết, vai trò của phong trào giải phóng thuộc địa đối với cách mạng vô sản thế giới, đề ra khẩu hiệu: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại".

Từ những tiền đề trên, khóa luận phân tích các dấu mốc trong hành trình hoạt động thực tiễn của Nguyễn Ái Quốc:

  • 1911: Nguyễn Tất Thành quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước bằng cách làm việc trên tàu buôn, hòa mình vào đời sống công nhân lao động nghèo khổ tại các nước thuộc địa và chính quốc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu; tự học ngôn ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp), nghiên cứu văn hóa qua các tác phẩm của Shakespeare, Dickens, Anatole France.
  • 1919: Gia nhập Đảng Xã hội Pháp; ngày 28/6/1919 gửi bản Yêu sách của nhân dân An Nam (8 điểm) đến Hội nghị Versailles, đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân thuộc địa.
  • Mùa thu 1920: Đọc bản Sơ thảo Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo L'Humanité, nhận thức được con đường giải phóng dân tộc.
  • 29/12/1920: Tham dự Đại hội Tours (Đại hội XVIII của Đảng Xã hội Pháp), bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
  • 1925: Thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên với cơ cấu 5 cấp (tổng bộ, kỳ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ, chi bộ), tổ chức huấn luyện chính trị cho các thanh niên yêu nước.
  • 1929 – 1930: Sự phân hóa và ra đời của 3 tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng ngày 17/6/1929, An Nam Cộng sản Đảng tháng 10/1929, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn tháng 9/1929). Ngày 3/2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chương II: Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 về một số nội dung

Chương II đi sâu phân tích hai nội dung chuyển biến lớn trong nhận thức lý luận của Nguyễn Ái Quốc: quan niệm về dân tộc thuộc địa và mối quan hệ giữa dân bản xứ với người thực dân.

1. Sự chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về dân tộc thuộc địa

  • Mở rộng nội hàm khái niệm: Trước năm 1911, ý thức dân tộc của Người gắn liền với tình thương yêu đồng bào An Nam chịu cảnh nước mất nhà tan. Qua quá trình khảo sát thực tế tại các thuộc địa của Pháp, Anh ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ, Nguyễn Ái Quốc nhận thức "dân tộc thuộc địa" không chỉ là người da vàng An Nam mà là toàn thể các cộng đồng bị áp bức trên thế giới (người Madagascar, Algérie, Ấn Độ, Triều Tiên...), không phân biệt màu da, chủng tộc.
  • Đặc trưng của dân tộc thuộc địa: Nguyễn Ái Quốc xác định dân tộc thuộc địa là cộng đồng những con người có chung dòng máu, phong tục, lịch sử, truyền thống và tiếng nói, nhưng đã bị chủ nghĩa đế quốc dùng bạo lực tước đoạt độc lập, chủ quyền và quyền sống cơ bản.
  • Vạch trần bản chất chủ nghĩa thực dân: Thông qua các bài báo trên L'Humanité, tác phẩm Đông Dương (1923–1924) và Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người tố cáo chính sách "khai hóa văn minh" giả hiệu, chính sách dùng rượu ty và thuốc phiện để làm ngu dân, đần độn hóa nhân dân bản xứ; chính sách "chia để trị" nhằm phá vỡ khối đoàn kết đồng bào.

2. Tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về mối quan hệ giữa "người bản xứ" và "người thực dân"

  • Từ quan hệ áp bức dân tộc đến quan hệ giai cấp: Ban đầu, mối quan hệ này được nhận diện là sự xung đột giữa kẻ xâm lược (kẻ chinh phục) và nhân dân bị chinh phục. Dưới góc độ duy vật lịch sử sau khi tiếp cận chủ nghĩa Lênin, Người chỉ ra bản chất kinh tế của mối quan hệ này: giai cấp tư sản thực dân sử dụng bộ máy bạo lực nhà nước để tước đoạt tư liệu sản xuất của nhân dân bản xứ, biến người bản xứ thành lực lượng lao động làm thuê.
  • Sự hình thành hai giai cấp vô sản ở thuộc địa: Quá trình khai thác tư bản đã tạo ra tại Đông Dương giai cấp vô sản công nghiệp và vô sản nông nghiệp. Kẻ thống trị trở thành chủ tư bản công nghiệp và đại địa chủ thực dân. Mối quan hệ giữa người thực dân và người bản xứ do đó mang bản chất đối kháng giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
  • Phân hóa nội bộ xã hội thuộc địa: Đối với tầng lớp địa chủ và tư sản bản xứ, mặc dù họ có quyền lợi kinh tế bóc lột người lao động nhưng về địa vị chính trị, họ vẫn chịu sự áp bức của thực dân Pháp. Vì vậy, Nguyễn Ái Quốc nhìn nhận họ là lực lượng có khả năng tham gia vào phong trào giải phóng dân tộc khi quyền lợi dân tộc được đặt lên hàng đầu.
  • Sự đối kháng về quyền lực và pháp lý: Người bản xứ bị coi như "vật liệu biết nói", bị tước đoạt mọi quyền tự do dân chủ cơ bản, phải gánh chịu mọi thứ sưu cao thuế nặng và làm bia đỡ đạn cho chính quốc trong các cuộc chiến tranh đế quốc; trong khi người thực dân nắm trọn đặc quyền, đặc lợi và tự đặt mình lên trên pháp luật.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận làm rõ tính quy luật của sự chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc: đi từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống $\rightarrow$ tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Tây $\rightarrow$ đến với chủ nghĩa Lênin $\rightarrow$ xác lập lập trường cách mạng vô sản.
    • Phân tích cơ sở lý luận dẫn đến việc Người khẳng định con đường cứu nước duy nhất của Việt Nam là con đường cách mạng vô sản, trong đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa gắn chặt với phong trào cách mạng vô sản ở chính quốc.
    • Làm rõ tư tưởng tổ chức lực lượng cách mạng: từ việc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925) để đào tạo cán bộ đến việc triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3/2/1930).
  • Đóng góp của khóa luận:
    • Vận dụng phương pháp nghiên cứu văn bản học kết hợp lịch sử triết học để hệ thống hóa sự phát triển nhận thức của Nguyễn Ái Quốc trong các tác phẩm thuộc 3 tập đầu bộ Hồ Chí Minh toàn tập.
    • Làm rõ luận điểm triết học về sự chuyển hóa nội hàm khái niệm "dân tộc thuộc địa" và bước chuyển từ nhận thức áp bức dân tộc đơn thuần sang nhận thức đối kháng giai cấp sâu sắc trong điều kiện xã hội thuộc địa nửa phong kiến.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi khảo cứu trong giai đoạn 1911–1930 thông qua hệ thống văn bản của 3 tập đầu Hồ Chí Minh toàn tập; chưa mở rộng phân tích các chặng đường phát triển tư tưởng sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cũng như chưa đi sâu vào toàn diện các khía cạnh tư tưởng quân sự, triết học văn hóa và đạo đức của Người ở các giai đoạn cách mạng tiếp theo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu quá trình hiện thực hóa tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn lãnh đạo cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (1930–1945).
    • Nghiên cứu sâu hơn về tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc khi vận dụng các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản vào điều kiện thực tiễn xã hội Việt Nam và phong trào cách mạng thuộc địa.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên và các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Triết học (đặc biệt là Lịch sử Triết học Việt Nam, Lịch sử Triết học Mác - Lênin), ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính trị học.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phần phân tích tiền đề lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam qua các văn bản thời phong kiến (Chiếu dời đô, Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo).
    • Hệ thống các luận cứ văn bản học trích dẫn từ các bài viết thời kỳ đầu của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo L'Humanité, tác phẩm Đông Dương và Bản án chế độ thực dân Pháp nhằm làm rõ bản chất kinh tế - xã hội của chế độ thuộc địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Trước khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Nguyễn Tất Thành đã có nhận xét như thế nào về các phong trào yêu nước đương thời?
Nguyễn Tất Thành khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường của họ: coi chủ trương cải lương của cụ Phan Châu Trinh chẳng khác nào "xin giặc rủ lòng thương"; coi chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp của cụ Phan Bội Châu là "đuổi hổ cửa trước rước báo cửa sau"; và nhận xét cụ Hoàng Hoa Thám tuy trực tiếp đấu tranh chống Pháp nhưng đường lối còn mang nặng cốt cách phong kiến.

2. Lý do trực tiếp nào dẫn đến việc Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu gia nhập Quốc tế III tại Đại hội Tours (12/1920)?
Nguyễn Ái Quốc quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vì nhận thấy Quốc tế III kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa, như câu trả lời của Người với đồng chí Rose: "Tôi hiểu rõ một điều, Quốc tế III rất chú ý đến giải quyết vấn đề giải phóng thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, là tất cả những điều tôi hiểu."

3. Khái niệm "dân tộc thuộc địa" được Nguyễn Ái Quốc nhận thức mở rộng như thế nào so với quan niệm truyền thống?
Người không chỉ giới hạn khái niệm ở phạm vi nhân dân bản xứ An Nam mà mở rộng ra toàn thể các dân tộc bị áp bức, bóc lột tại các thuộc địa trên thế giới thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ và châu Đại Dương (bao gồm cả người da vàng và người da đen), cùng chịu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân đế quốc.

4. Dưới tác động của phương thức sản xuất thực dân, mối quan hệ giữa người bản xứ và người thực dân chuyển hóa thành quan hệ giai cấp nào?
Chính sách cướp đoạt tư liệu sản xuất của thực dân đã biến người dân bản xứ thành hai bộ phận giai cấp mới: giai cấp vô sản công nghiệp và giai cấp vô sản nông nghiệp. Qua đó, mối quan hệ thống trị thực dân chuyển hóa sâu sắc thành mối quan hệ đối kháng giữa giai cấp tư sản (chủ đất, chủ tư bản người Pháp) và giai cấp vô sản tại thuộc địa.

5. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên thành lập năm 1925 có cơ cấu tổ chức và mục tiêu gì?
Hội được tổ chức theo hệ thống 5 cấp: tổng bộ, xứ (kỳ) bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ. Mục tiêu của Hội là làm cách mạng dân tộc (đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập cho xứ sở), sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc, thực hiện chủ nghĩa cộng sản) thông qua việc mở các lớp huấn luyện chính trị Mác - Lênin và cử cán bộ đi học tại Liên Xô, Trung Quốc.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930" đã phục dựng mạch lạc hành trình phát triển nhận thức lý luận của Nguyễn Ái Quốc từ lòng yêu nước truyền thống đến thế giới quan duy vật biện chứng và lập trường giai cấp vô sản. Công trình làm rõ sự kế thừa các giá trị tư tưởng dân tộc kết hợp với việc tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc thuộc địa và con đường cách mạng giải phóng dân tộc. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 là cột mốc kết tinh thành tựu chuyển biến tư tưởng của Người, đặt nền tảng quyết định cho toàn bộ tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại.