Chương 1 trình bày những vấn đề cơ sở lý luận cơ bản về nghiên cứu triển khai sản phẩm dịch vụ mới, những công cụ cơ bản trong phân tích thị trường nhằm mục tiêu phát triển sản phẩm dịch vụ mới. Nội dung và đặc điểm của dịch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tín thuê cũng được trình bày trong chương này. Dịch vụ Quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê 1. Khái niệm về sản phẩm dịch vụ Khải niệm về dịch vụ: Trong các loại sản phẩm bán trên thị trường cỏ những sản phẩm hàng hóa hữu hình và dịch vụ.
Dịch vụ được hiểu là "quá trình cung cấp lợi ích cụ thể cho khách hàng trực tiếp và mang tính vô hình. Dịch vụ đáp ứng một nhu cầu cụ thể của khách hàng. Khi được thực hiện, nó đem lại lợi ích cụ thể cho khách hàng. Dịch vụ mang đặc tính vô hình, không nhìn thấy và không chạm được như các sản phẩm hàng hóa.
Có những dịch vụ trong quá trình thực hiện gắn liền với những điều kiện hàng hóa vật chất cụ thể. Ví dụ như dịch vụ ngân hàng cần có những địa điểm, nơi giao dịch. Tuy vậy luôn cần có quá trình tham gia trực tiếp của nhân viên trong các dịch vụ. Chất lượng dịch vụ thường phụ thuộc vào chất lượng con người và quá trình cung cấp.
Chính vì vậy, việc quản lý chất lượng và đánh giá chất lượng là điều rất khó khăn trong quản lý. Cần xây dựng vả quản lý quy trình và cả quá trình tổ chức triển khai dịch vụ. Trong dịch vụ có dịch vụ căn bản và dịch vụ đi kèm, dịch vụ ngoại vỉ tạo thành gói dịch vụ. Xu thế thì dịch vụ ngoại vi dần trở thành dịch vụ căn bản và xuất hiện dich vu ngoại vi mới tạo thành gói dich vụ mới.
Phân loại dịch vụ: * Theo khả năng tiêu chuẩn hóa ~_ Dịch vụ có khả năng tiêu chuẩn hỏa cao (có thể dùng thiết bị công nghệ thay dịch vụ khối lượng lớn, quá trình cung cấp xác định yêu cẩu kỹ năng nhân viên không cao, quá trình cung cấp xác định trước các hoạt động thường xuyên lại. hạn chế tỉnh sang tạo của người cung cấp) ~_ Dịch vụ theo yêu cầu (tính sang tạo cao, linh hoạt) «Theo mức độ sản phẩm đi kèm ~_ Dịch vụ thuần túy ~_ Sản phẩm thuần tủy = Goi sin phan dich vụ ® Theo mức độ tiếp xúc với khách hàng ~_ Dịch vụ tiếp xúc cao ~_ Dịch vụ tiếp xúc thấp Đặc điềm của dịch vụ: ~ Mang tính võ hình: ta không thẻ nhìn thấy, chạm được. Dịch vụ chỉ hình thành trong quá trình thực hiệ - Dau vào rất đa dạng và khó tiêu chuẩn hóa. Các dịch vụ phụ thuộc vào con người và quá trình thực hiện cụ thể.
~ Quan hệ trực tiếp với khách hảng (thậm chí khách hàng còn tham gia trực tiếp trong quá trình thực thi). Việc tô chức dịch vụ tốt hay không còn phụ thuộc vào chính đối tượng khàng hàng. ~ Cung cấp và tiêu dùng đồng thời: Dịch vụ không hình thành trước đó, chỉ khi dịch vụ được thực hiện, quá trình sản xuất và tiêu dùng sẽ được thực hiện đồng thời. ~ Không có dự trữ: Dịch vụ không thể sản xuất trước, lưu trữ.
~ Tính thời vụ và thời điểm cao: Chính do quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời, dịch vụ sẽ bị dỗn lại trong giai đoạn cao điểm của thời vụ. ~ Khó đánh giá năng suất: Do phụ thuộc vào chất lượng và người trực tiếp thực hiện, việc đánh giá năng xuất là khó khăn đối với các định vụ. Khái niệm về dịch vụ quản trị hệ thắng công nghệ thông tìn thuê Khái niềm vệ dkh vụ công nghệ thứng tì: Céng nghé théng tin duge khai thác trong các tổ chức, doanh nghiệp hình thành các hệ thống thông tin. Hệ thống thông tin bao gồm cả máy móc, công nghệ.
Quản lý hệ thống thông tin trở thành một hoạt động không thể thiếu của các tổ chức doanh nghiệp khai thác rộng rãi công nghệ thông tin. Để quản lý hệ thống thông tin, một trong những yếu tố được đẻ cập tới đầu tiên là quản lý công nghệ thông tin, bao gồm cả các công nghệ phần cứng là máy móc và phan mềm là các chương trình. Để quản lý công nghệ thông tin, một yêu cầu thiết yếu là người quản lý phải có kiến thức đẩy đủ về công nghệ thông tin. Điều này không phải dễ dàng với nhiễu doanh nghiệp.
Thêm vào đó, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin dẫn tới yêu cầu người quản lý công nghệ thông tin phải thường xuyên cập nhật, phát triển kiến thức về công nghệ. Duy trì một đột ngũ kỹ sư công nghệ thông tin trong doanh nghiệp để quản lý công nghệ thông tin là một giải pháp. Tuy vậy, khi cân nhắc hiệu quả của cách thức quản lý này, nhiều doanh nghiệp lựa chọn giải pháp thứ hai đó là thuê quản lý công nghệ thông tin. Dịch vụ quản trị công nghệ thông tin thuê ra đời từ đây.
Dich vụ công nghệ thông tin thuê là hình thức cung cấp các phẩn mềm, hệ thống công nghệ dưới dạng dịch vụ, gói dịch vụ, gói thuê bao. Toàn bộ hệ thống sẽ chạy trên nền tảng của nhà cung cấp, nhà cung cấp dịch vụ sẽ đảm trách các khẩu từ triển khai dịch vụ, vận hành cho tới bảo trì, bảo dưỡng cho khách hàng. (Nguồn: phát triển của tác giả) Khải niệm về dịch vụ quản trị hệ thông công nghệ thông tin: Có rất nhiều cách hiểu khác nhau vẻ thuê dịch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê. Hiểu một cách cơ bản nhất: địch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê là việc nhà cung cấp địch vụsử dụng nhân lực, các tiềm lực có sẵn phối hợp với việc đi thuê tiếp các dịch vụ công nghệ thông tin khác để tổ chức quản lý, vận hành, giám sát, khắc phục, xử lý các sự cổ cho các hệ thông.
các dịch vụ công nghệ thông tin hoạt động thường ngày của khách hàng có như câu thuê. Nhà cung cấp dịch vụ quán lý công nghệ thông tìn thuê có thẻ sử dựng các nguẫn lực sẵn có của mình về nhân lực, hoặc thuê mua để tạo thành các gói dịch vụ quản trị hệ thống bản cho khách hàng nhằm thực hiện dhụ trì ồn định hệ thống cho khách hàng. Các gói dịch vụ của địch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê thì có thé chia theo tiêu chí là : gói dịch vụ thuần túy (có các gói : dịch vụ vận hành hệ thông. quản trị hệ thống, quản trị ứng dụng.) có gói bán kèm theo thiết bị và có thể thuê cơ sở hạ tẳng.
Các hoạt động duy trì, nâng cấp kém theo các gói phần mềm. phần cứng cũng là một phần của địch vụ quản trị thuê. Một gói địch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê được tạo lên xuất phát từ nhu cầu của khách hàng, khách hàng có nhu cầu thì công ty sẽ chuẩn bị thành một gói sản phẩm và thông thường nó bao gồm: nhân sự kinh doanh. nhân sự quản lý dự án, nhân sự kỹ thuật thực hiện triển khai các dự án, các quy trình công nghệ, và có thể các có các thiết bị, công cụhay hạ tằng công nghệ thông tin đi kèm.
Trong cấu phần gói địch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thuê thì tỷ trọng phần nhân sự chiếm tỷ trọng lớn và là chủ yếu. Vai trò của dịch vụ quản trị hệ thông công nghệ thông tin thuê Hiện nay chúng ta đang sống trong thế giới số thì vai trò của công nghệ thông tỉn, hệ thống thông tin là điều không thể thiếu đối với con người, doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ. Sự thay đổi công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin dang điễn ra từng, ngày từng giờ, các khái niệm, xu hướng, nền tảng công nghệ thay đổi rất nhanh làm cho các doanh nghiệp, tổ chức cũng phải đáp ứng theo.Thị trường cho thấy các doanh nghiệp, tổ chức mà không đáp ứng được thay đổi công nghệ thì ngày càng mất lợi thé cạnh tranh ở trên thì trường. Những điều này rất quan trọng cho các doanh nghiệp.
tổ chức hoạt động trong lĩnh vực có liên kết nhiều nơi, giao dịch đa điểm. như các ngân hàng, các tổ chức tài chính, chính phủ như thuế, hải quan. Việc thay đổi nền tảng công. nghệ kéo theo phải thay đổi nhân sự để quản trị, vận hành và khắc phục các sự cố.
Nhiều đơn vị, không đủ nhân sự do không thể tuyển dụng quá nhiều trong khi nhân sự lớn tuổi trong doanh nghiệp không theo kịp. Hơn nữa việc quản lý kỹ sư công nghệ thông tin có trình độ chuyên môn cao gặp rất nhiều khó khăn do phải có ưu tiên, phải có con đường thăng tiến tốt, có chính sách đãi ngộ cao. Những khó khăn này dẫn tới nhu cầu lớn của các đơn vị là phải thuê dich vụ quản lý công nghệ thông tin ở bên ngoải. Tại Việt Nam, Chinh phủ đã có chính sách cho các doanh nghiệp nha nước, các cơ quan nhà nước cho thuê dịch vụ quản trị hệ thống công nghệ thông tin thông qua Quyết định số 80/2014/QĐ-TTG.
Từ đó, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quản lý công nghệ thông tin được xây dựng.cung cấp dịch vụ quản trị và triển khai công nghệ chuyên nghiệp. Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ quản lý công nghệ thông tin thuê mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng. Việc trang bị hệ thống CNTT trong doanh nghiệp sẽ nhanh chóng hơn nhờ có sẵn nhà cung cấp, dịch vụ trên thị trường, đễ dàng tính được chỉ phí và có được chất lượng chuyên nghiệp hơn so với việc doanh nghiệp tự triển khai. Bên thuê chỉ cần tập trung vào nghiệp vụ chính của mình, không cần duy trì đội ngũ nhân lực để vận hảnh, bảo trì, sửa chữa, nẵng cấp, phát triển hệ thống, phần mềm.
Dễ dàng mở rộng, thu hẹp hoặc dừng sử dụng tùy theo tình hình thực tế doanh nghiệp. Đa số trường hợp, doanh nghiệp có thẻ tiết kiệm được chỉ phí vận hành, nhân sự, bảo trì. bảo hành, không bị phụ thuộc vào một công nghệ nhất định. cũng như tránh được việc bị lạc hậu về công nghệ.
Tiết kiệm chỉ phí là một trong những yếu tố quan trọng để doanh nghiệp thuê dịch vụ ngoải tuy không phải là yêu tố ưu tiên trong nhiều trường hợp. Những dịch vụ nên thuê là những dịch vụ đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao, không phải là thế mạnh của doanh nghiệp, những dịch vụ có thời gian sống ngắn vả những dịch vụ cần có tốc độ triển khai nhanh.