Chương 1 LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 1. QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Sự xuất hiện quyền công tố Công tố là hiện tượng xã hội xuất hiện khá sớm trong lịch sử nhân loại, nó gắn liền với các nhà nước trong các chế độ chính trị - xã hội và ngày càng phát triển. Trong nhà nước pháp quyền "công tố", "quyền công tố" và "thực hành quyền công tố" là những phạm trù đi liền với chức năng nhà nước trong quá trình quản lý xã hội, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Đồng thời, quyền công tố cũng được xem xét trong mối quan hệ với phạm trù bảo đảm quyền con người, nên nó là vấn đề khá "nhạy cảm" nếu không giải quyết tốt mối quan hệ này. Là hiện tượng trong cơ cấu thực hiện quyền lực nhà nước nhưng quan niệm về sự xuất hiện quyền công tố cũng như nội hàm của hiện tượng này có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lập luận và cơ sở triết học cũng như thực tiễn khác nhau. Sự đa dạng của các quan điểm về sự ra đời của quyền công tố giúp chúng ta xem xét nó ở trên nhiều bình diện để có sự nhìn nhận, đánh giá khoa học nhất. Chúng tôi, khái quát những quan điểm tương đối về sự ra đời của quyền công tố trong lịch sử, cụ thể là: Thứ nhất, quan điểm cho rằng, quyền công tố gắn liền với sự phát triển của khoa học pháp lý, khi mà các khái niệm dân chủ và quyền con người được đề cao, đòi hỏi cần phải có một cơ quan thay mặt nhà nước đứng ra bảo vệ quyền bị xét xử bởi các cơ quan tư pháp [39, tr.
Như vậy, quan điểm này đã thể hiện một nội dung quan trọng là quyền công tố không phải xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước trong lịch sử xã hội loài mà chỉ xuất hiện khi nhà nước đó phát triển ở mức độ tương đối cao, khi mà "các khái 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com niệm dân chủ và quyền con người được đề cao". Với lập luận này quyền công tố chỉ xuất hiện trong nhà nước có tính chất pháp quyền. Thứ hai, quan điểm coi quyền công tố là một quyền độc lập, chỉ có trong xã hội dân chủ, nhằm bảo vệ quyền của các chủ thể quan hệ pháp luật khi tham gia quá trình tố tụng tại phiên tòa và thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật (có thể nằm trong cơ cấu của Tối cao pháp viện). Cơ quan công tố là "mối dây liên lạc giữa các cơ quan công quyền với quần chúng, giữa các cơ quan công quyền với nhau nhằm phục vụ lợi ích của các bên theo quy định của pháp luật".
Đại diện cho trường phái này là E.Hermann và tập thể tác giả trong cuốn "Quyền công tố trong cơ cấu hành chính - chính trị". Các tác giả nhấn mạnh quyền công tố là một loại quyền năng mà khi có sự phân chia triệt để ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì phải có một loại cơ quan đặc biệt để thực hiện quyền tư pháp nhưng "chống" lại quyền xét xử để nhằm bảo vệ các đạo luật, bảo vệ Chính phủ và các thể nhân bị Tòa án xét xử. Đó là quyền công tố [39, tr. Thứ ba, quan điểm cho rằng, đến cuối thể kỷ XIII đầu thế kỷ XIV (thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến), với việc tách các cơ quan Tòa án ra khỏi hệ thống các cơ quan hành pháp, cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật thì lịch sử công tố mới xuất hiện.
Tuy không xuất hiện cùng với Nhà nước nhưng lịch sử quyền công tố gắn liền với quá trình phát triển của Nhà nước và phân chia quyền lực nhà nước, gắn liền với sự phát triển và văn minh của pháp luật. Trước đó việc xét xử do các quan chức hành chính kiêm nhiệm và là người đại diện cho Vua để xét xử, chứ không phải đại diện cho công quyền. Những người theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho nhà nước, đại diện công quyền để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử (ra Tòa án), do đó quyền công tố không thể xuất hiện cùng với nhà nước mà chỉ xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Tòa án với tư cách là cơ quan xét xử chuyên nghiệp và độc lập [39, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ tư, quan điểm cho rằng, quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất của nhà nước và xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật.
Quyền công tố tồn tại trong tất cả các kiểu nhà nước, từ nhà nước chủ nô đến các nhà nước đại diện [39, tr. Quan điểm này, khá cởi mở và coi quyền công tố như một đặc tính vốn có của nhà nước như dân cư, lãnh thổ. Như vậy, đa số các quan điểm (thứ nhất, thứ hai, thứ ba) đều có cơ sở chung là khẳng định quyền công tố chỉ xuất hiện khi có nhà nước pháp quyền, và gắn việc xuất hiện quyền công tố với vấn đề dân chủ. Theo đó, quyền công tố là kết quả trực tiếp và tất yếu của quá trình vận động xã hội ở thời điểm xuất hiện dân chủ với nghĩa là một thể chế.
Những quan điểm thuộc loại này đã phản ánh một thực tại là việc phân công rành mạch chức năng của các cơ quan nhà nước chỉ gắn liền với nhà nước dân chủ, nhà nước pháp quyền. Nghiên cứu lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy các cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố xuất hiện khá muộn, gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại nhà nước chuyên chế, phi dân chủ, thực hiện sự phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước. Song không phải vì thế mà đồng nhất sự ra đời của cơ quan chuyên trách thực hiện quyền công tố (là một bộ phận thuộc cơ cấu quyền lực nhà nước) với sự ra đời của quyền công tố (là một khái niệm pháp lý). Từ những phân tích trên, quan điểm thứ tư là có cơ sở hơn cả.
Quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất của nhà nước, là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của công quyền. Với quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện việc buộc tội đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội (theo quan điểm của giai cấp thống trị xã hội), chúng tôi cho rằng khi nhà nước xuất hiện thì cùng đồng thời xuất hiện quyền công tố. Nhà nước nào cùng ban hành pháp luật để quản lý xã hội (nói chính xác hơn là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, giữ cho các quan hệ xã hội được thực hiện theo ý muốn, theo khuôn mẫu tư tưởng của 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giới thống trị xã hội). Đồng thời nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại khi xuất hiện và tồn tại những mâu thuẫn đối kháng (mang tính giai cấp) không thể điều hòa được.
Điều đó có nghĩa là trong bất kỳ một xã hội nào (khi đã xuất hiện nhà nước), bên cạnh lực lượng thống trị xã hội luôn luôn tồn tại một (hoặc nhiều) lực lượng (bị thống trị) có thái độ, có hành động thù địch chống lại lực lượng thống trị xã hội (nắm quyền lực nhà nước), biểu hiện cụ thể ở những hành vi vi phạm pháp luật (chống lại ý chí của giai cấp thống trị) đến mức nguy hiểm (đe dọa đến quyền thống trị nhà nước) cần phải bị trừng trị. Muốn trừng trị kẻ vi phạm thì phải buộc được tội của họ. Quyền nhân danh nhà nước (nhân danh công quyền) thực hiện sự buộc tội này chính là quyền công tố. Tuy nhiên việc tổ chức thực hiện quyền công tố, nội dung quyền công tố, và phạm vi thực hành quyền này được quy định rất khác nhau ở mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.
Ngay trong một nhà nước cụ thể với một chế độ chính trị xác định, ở mỗi giai đoạn phát triển của nó cũng có thể có những thay đổi nhất định trong việc tổ chức và xác định phạm vi thực hiện quyền công tố. Thời kỳ đầu khi nhà nước mới ra đời, trong điều kiện bộ máy nhà nước còn đơn giản và hệ thống pháp luật mới được hình thành quyền công tố chỉ được sử dụng trong một phạm vi hẹp để bảo vệ các lợi ích công, như các lợi ích của nhà nước (của giai cấp thống trị) và lợi ích của cả cộng đồng. Do đó chức năng nhà nước chưa được phân định rõ ràng giữa các cơ quan nhà nước, quyền công tố có thể do một cơ quan, thậm chí một quan chức nhà nước duy nhất thực hiện từ đầu đến cuối. Ví dụ, trong nhà nước chủ nô hoặc phong kiến, việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thông thường chỉ do một quan án đảm nhiệm.
Càng về sau cùng với sự phát triển, hoàn thiện của bộ máy nhà nước và hệ thống pháp luật, việc phân định chức năng nhà nước giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn theo hướng chuyên môn hóa. Mặt khác nhận thức xã hội về lợi ích công, lợi ích tư, về trách nhiệm của 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhà nước đối với xã hội và cá nhân đã có sự thay đổi đáng kể. Dần dần, nhà nước (giai cấp thống trị) nhận thức một cách đầy đủ và rõ ràng rằng, trong nhiều trường hợp khi có lợi ích cá nhân bị xâm phạm thì lợi ích công (như trật tự công cộng, an ninh xã hội.) cũng bị xâm hại hoặc bị đe dọa. Bởi vậy, cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ lợi ích cá nhân khi chúng bị xâm phạm.
Chính vì lẽ đó, vai trò của công tố ngày càng được đề cao, trong khi vai trò của tư tố ngày càng mờ nhạt dần trong hoạt động tố tụng hình sự. Quyền công tố có liên hệ chặt chẽ với pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự, trong đó quy định cụ thể các loại hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm. Bất kỳ giai cấp thống trị nào khi lên nắm quyền lực nhà nước đều hết sức quan tâm đến lĩnh vực pháp luật hình sự, bởi chính pháp luật hình sự là phương tiện cai trị hữu hiệu nhất.