PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu cho và nhận thông tin, đặc biệt các thông tin tài chính luôn giữ vai trò tối quan trọng để ra các quyết định kinh doanh. Tính minh bạch, tính trung thực của thông tin tài chính đóng vai trò lớn trong việc ổn định thị trường chứng khoán và ổn định xã hội. Với vai trò cung cấp thông tin tài chính làm nền tảng cho việc ra quyết định kinh doanh, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với mọi hoạt động kinh tế tài chính, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống công cụ quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế.
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đã và đang phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa. Đây là xu hướng phát triển tất yếu của thế giới trong giai đoạn hiện nay và cả trong tương lai. Hoạt động kinh doanh không chỉ diễn ra trong phạm vi từng quốc gia mà đã phát triển theo hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Các công ty, tổ chức tài chính, các nhà đầu tư đều tìm cơ hội để xâm nhập và dịch chuyển đầu tư vào các quốc gia khác từ đó làm phát sinh việc quốc tế hóa thị trường vốn, thị trường tiêu thụ, thị trường lao động … Toàn cầu hóa đòi hỏi các quyết định kinh tế, dù được đưa ra ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đều phải tính tới các yếu tố quốc tế.
Tuy nhiên do đặc điểm lịch sử, kinh tế, luật pháp, văn hóa giữa các quốc gia khác nhau nên các thông tin tài chính thường được soạn thảo theo các chuẩn mực và thông lệ giữa các quốc gia có sự khác biệt rất lớn. Để có thể hiểu, đo lường, so sánh được các thông tin tài chính, cung cấp thông tin tài chính giúp cho hoạt động đầu tư tài chính thành công bất kể sự khác nhau về thời gian và không gian địa lý quả là một thách thức rất lớn đối với kế toán. Và đây cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy các nhà thiết lập chuẩn mực kế toán – các hiệp hội kế toán trên thế giới mà tiêu biểu là Ủy Ban Chuẩn Mực Kế Toán Tài Chính Hoa Kỳ (FASB) và Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) – đang liên tục thực hiện các dự án kế toán để 2 thống nhất các nguyên tắc kế toán trong việc lập báo cáo tài chính, ban hành và chỉnh sửa các chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống kế toán ở các quốc gia khác, hạn chế những sự khác biệt xung đột nhau giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới. Tạo thuận lợi cho hoạt động kế toán của các doanh nghiệp (DN), tạo cơ sở cho kế toán viên hoạt động nghề nghiệp, làm căn cứ để cơ quan Nhà nước quản lý.
Tổng hợp các yêu cầu đó Bộ Tài Chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán. Qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu về sách, báo, internet và các tài li ệu tham khảo khác, tôi thấy đại đa số tập trung nghiên cứu các chuẩn mực kế toán do Bộ Tài Chính ban hành. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào tháng 11/2006. Tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những cơ hội thuận lợi, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức to lớn đó là sức ép cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và việc áp dụng các chuẩn mực kế toán đồng nhất với chuẩn mực kế toán thế giới.
Nhận thấy được ý nghĩa thiết thực trong việc nghiên cứu, tôi đã chọn đề tài “Chuẩn mực IAS 36 và điều kiện áp dụng chuẩn mực IAS 36 ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu về hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như xu hướng, quá trình hội tụ kế toán trên thế giới. Sau đó dựa vào hệ thống kế toán Việt Nam hiện hành, các đặc điểm về môi trường kế toán của Việt Nam như văn hóa, luật pháp, kinh tế, xã hội … để đề xuất phương hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ của kế toán Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau: - Thực tiễn xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và đặc điểm quá trình hòa hợp, hội tụ về kế toán trên thế giới.
3 - Phân tích quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam, so sánh sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành và chuẩn mực quốc tế. - Đề xuất phương hướng và điều kiện áp dụng chuẩn mực IAS36 tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về chuẩn mực kế toán quốc tế, cụ thể là chuẩn mực kế toán IAS 36 và điều kiện áp dụng nó ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: các DN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Để đạt được mục tiêu của đề tài và nội dung nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: thu thập thông tin từ nguồn đã có sẵn, đây là những dữ liệu đã qua tổng hợp và xử lý, gồm: Các cơ quan Nhà nước như cơ quan thuế, cơ quan thống kê …các dữ liệu tổng quát về tình hình hoạt động của các DN. Sách, báo, tạp chí internet dữ liệu từ nguồn này vừa là cơ sở lý luận vừa mang tính thời sự và cập nhật cao. Các tổ chức, hiệp hội… Phương pháp điều tra, khảo sát: mục đích thu thập thông tin sơ cấp để nắm được thực trạng qua đó đánh giá tình hình bằng cách trả lời bảng câu hỏi được thiết kế phù hợp với nội dung và đối tượng nghiên cứu của đề tài. Phương pháp phân tích sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xử lý và trình bày dữ liệu đã thu thập.
Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày dưới dạng bảng kết hợp: bảng kết hợp biến định tính. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn này có ý nghĩa thực tiễn giúp các đối tượng sử dụng thông tin có được (luồng) thông tin chính xác nhằm đưa ra các quyết định. 4 Qua tìn hiểu, phân tích IAS 36 những thuận lợi và khó khăn khi áp dụng IAS 36 tại Việt Nam giúp cho công tác kế toán tại các doanh nghiệp áp dụng cho phù hợp. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ KẾ TOÁN.CHUẨN MỰC KẾ TOÁN Ở VIỆT NAM 2.
Tổng quan chuẩn mực quốc tế về kế toán 2.Nguyên nhân hình thành hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế Với xu hướng toàn cầu hóa về hợp tác và phát triển kinh tế, sự hình thành hàng loạt các công ty đa quốc gia, thị trường tài chính quốc tế và các hoạt động thương mại ngoài biên giới, các nhà đầu tư không chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực mà còn mở rộng hoạt động ra phạm vi toàn thế giới. Hoạt động kế toán không còn là vấn đề mang tính quốc gia mà cần phải được giải quyết ở tầm cỡ và quy mô quốc tế. Nhu cầu này đòi hỏi phải xúc tiến quá trình hài hòa, thống nhất chuẩn mực kế toán các quốc gia, nhằm tạo ra một ngôn ngữ chung về kế toán, nâng cao tính khách quan và tính có thể tin cậy được của thông tin tài chính, giúp cho thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính có thể hiểu và so sánh được. Muốn được như vậy đòi hỏi phải xây dựng và ban hành một hệ thống chuẩn mực chung, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành.
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống chuẩn mực đề cập đến những vấn đề mang tính nền tảng, khuôn mẫu, những nguyên tắc, phương pháp có tính chất cơ bản được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, có thể áp dụng ngay ở những quốc gia đã có đầy đủ những điều kiện cần thiết và ở các quốc gia chưa phát triển. Tuy nhiên, con đường quốc tế hóa kế toán không đơn giản, việc quyết định cơ quan ban hành, các vấn đề cần hòa hợp – hội tụ trong hệ thống chuẩn mực, lựa chọn quan điểm chính trong hệ thống chuẩn mực giữa hai trường phái kế toán Anglo- Saxon và Châu Âu lục địa là những vấn đề luôn cần được giải quyết trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống chuẩn mực quốc tế kế toán. Hệ thống kế toán và chuẩn mực quốc tế về kế toán (IASs/IFRSs) được soạn thảo bởi Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). Nó được soạn thảo và công bố theo những quy trình rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của các chuẩn mực và đảm bảo tính thực hành cao.
IASs/IFRSs được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới như châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc và nhiều quốc gia trên thế giới. Rất nhiều quốc 6 gia khác của châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và giảm thiểu sự khác nhau nếu có1. Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) không có sự bắt buộc mang tính hình thức (như biểu mẫu báo cáo thống nhất, hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, hình thức sổ kế toán, mẫu các chứng từ gốc thống nhất). IAS mặc dù đưa ra rất chi tiết các định nghĩa, phương pháp làm, cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các báo cáo tài chính nhưng IAS không bắt buộc phải sử dụng chung các biểu mẫu báo cáo tài chính, hệ thống tài khoản, các hệ thống chứng từ, sổ kế toán.
IAS có bộ khung khái niệm và tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực. Hệ thống chuẩn mực kế toán của một số quốc gia trên thế giới Những năm đầu của thế kỷ 20 được xem là giai đoạn ra đời và phát triển mạnh mẽ của chuẩn mực kế toán. Đi tiên phong trong giai đoạn này có thể kể đến nước Nga, đây là quốc gia đầu tiên ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất vào năm 1925. Sau đó, vào năm 1937, nước Đức cũng bắt đầu ban hành hệ thống tài khoản kế toán thống nhất của riêng mình.
Và hàng loạt các quốc gia bắt đầu quan tâm nhiều đến việc chuẩn hóa công tác kế toán, hình thành các quy ước, nguyên tắc thống nhất để hướng dẫn cho các kế toán viên thực hiện.