Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN CỦA ĐẢNG TRONG PHONG TRÀO CÁCH MẠNG 1930 - 1935 1. Nông dân Việt Nam thời thuộc địa và quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về nông dân trước khi Đảng ra đời 1. Nông dân trong xã hội Việt Nam thời thuộc địa Việt Nam là một nước nông nghiệp, giai cấp nông dân lực lượng đông đảo nhất của dân tộc Việt Nam, do đó nói đến cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc là nói đến vai trò của giai cấp nông dân Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc, nông dân là những chủ nhân đầu tiên khai phá đất đai, quai đê, lấn biển, xây dựng các làng, thôn ấp, các cộng đồng dân tộc Việt Nam, lập nên non sông đất nước hôm nay.
Trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, nông dân luôn luôn là lực lượng đông đảo nhất, là lực lượng sản xuất lớn nhất, tạo ra của cải nuôi sống xã hội, là lực lượng chủ yếu trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Bên cạnh các hình thức bóc lột thực dân chúng vẫn duy trì hình thức bóc lột theo lối phong kiến.
Theo số liệu thống kê của Viện Sử học, trong tác phẩm Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại: …trước Cách mạng tháng Tám, nông dân chiếm tới 97% tổng số nông hộ, nhưng chỉ chiếm 36% diện tích ruộng đất của cả nước. Ngoài ra, khoảng trên dưới 40% số hộ nông dân có chút ít ruộng tư, còn gần một nửa (ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ) và 2/3 số hộ (Nam Kỳ) không có lấy “một mảnh đất cắm dùi”. Ruộng đất bình quân của một hộ tiểu nông ở nước ta thấp nhất thế giới [118; tr. Ở nước ta, trước Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp, giai cấp địa chủ phong kiến và Nhà chung là bọn ngồi không ăn bám.
Chúng không quá 4% dân số, nhưng lại chiếm hơn 50% ruộng đất toàn quốc. Trong khi đó nông 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dân lao động là người khai phá ruộng đất, trực tiếp sản xuất, chiếm quá 90% dân số mà chỉ có 1/4 ruộng đất, kể cả ruộng công. Số gia đình nông dân không có ruộng đất chiếm tới 62%. Nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong các thành phần xã hội.
Nét nổi bật nhất trong bức tranh nông thôn Việt Nam thời Pháp thuộc là cảnh đói nghèo, lạc hậu. Họ phải chịu rất nhiều gánh nặng từ thuế má, địa tô, nợ lãi… Trong quá trình sản xuất, giai cấp nông dân cũng bị phân hóa dần thành các tầng lớp: phú nông, trung nông, bần nông và cố nông. Phú nông: trong nông dân là số người có nhiều ruộng đất hơn cả. Với 2,2% dân số nông thôn, họ có 7,1% ruộng đất.
Bình quân sở hữu ruộng đất của 1 nhân khẩu phú nông gấp 3 lần 1 nhân khẩu trung nông, gấp 9 lần 1 nhân khẩu bần nông… Phú nông không bị bóc lột mà có tham gia bóc lột nhân công, nợ lãi nhưng họ tham gia lao động sản xuất là chủ yếu [56; tr. Tầng lớp trung nông tương đối đủ ruộng đất (khoảng từ 3 mẫu trở lên đối với Bắc Kỳ) và các công cụ sản xuất như trâu, bò, nông cụ… để tự sản xuất và nuôi sống mình, không phải bán sức lao động, nhưng cũng không có khả năng tham gia vào việc bóc lột người khác. Nhưng đây cũng chỉ là sự phân chia giới hạn tương đối. Trên thực tế, có một số hộ trung nông lớp dưới đôi khi vẫn phải bán sức lao động cho địa chủ lớn và một số cũng tham gia bóc lột qua việc cho lĩnh canh ruộng đất dư hoặc phát canh lại ruộng lĩnh canh của địa chủ như ở Nam Kỳ.
Tầng lớp bần nông bao gồm những người thiếu ruộng đất canh tác, thiếu trâu bò và nông cụ sản xuất nên phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, thuê mướn trâu bò, nông cụ sản xuất và tiền vốn. Theo số liệu điều tra ở 16 tỉnh miền Bắc trước năm 1945 thì tầng lớp này có 20.246 hộ, chiếm 35,4% số hộ nông dân, nắm trong tay 10,8% diện tích canh tác; bình quân mỗi người sở hữu 476 m2 ruộng đất [58; tr. Cố nông là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân. Họ thường không có ruộng đất để cày cấy, không có trâu bò, nông cụ để sản xuất.
Nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng đất, đi làm thuê, làm mướn, đi ở cho nhà giàu, địa chủ. Một phần trong số họ vì không có ruộng đất bỏ làng đi làm thuê ở các đồn điền hay các cơ sở công nghiệp, hoặc đi làm cu li ở xứ Nam Kỳ. Họ trở thành công nhân đồn điền hay công nhân “áo nâu” trong các xí nghiệp, công xưởng 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của thực dân Pháp. Cũng theo số liệu của cuộc điều tra nói trên thì ở miền Bắc thời kỳ này có 11.785 hộ cố nông, chiếm 20,6% tổng số hộ nông dân, nhưng chỉ có trong tay 1.513 mẫu 7 sào ruộng, bằng khoảng 1,2% tổng số ruộng, bình quân chiếm hữu và sử dụng là 92 m2/người [58; tr.
Trong thời kỳ này, giai cấp nông dân chiếm tới 90% số hộ nông dân, nhưng chỉ có trong tay 42,4% diện tích ruộng đất canh tác. Vì thiếu ruộng đất canh tác nên đại đa số nông dân nghèo (bần nông và cố nông) phải lĩnh canh ruộng đất hay cấy rẽ (chủ yếu ở Bắc và Trung Kỳ), hoặc thuê mướn ruộng hay làm tá điền cho địa chủ để kiếm sống. Lĩnh canh là hình thức mướn ruộng của địa chủ, tự mình cày cấy và sau khi thu hoạch phải nộp cho địa chủ một phần sản phẩm dưới dạng hiện vật hay quy ra tiền. Ở nông thôn Bắc Kỳ và Trung Kỳ, địa tô thường chiếm từ 50 - 60% hoa lợi.
Còn hình thức mướn ruộng diễn ra phổ biến ở Nam Kỳ theo hai cách: người mướn ruộng trả tiền thuê ngay cho chủ ruộng, hoặc trả địa tô bằng 1/2 hoa lợi vào vụ thu hoạch [58; tr. Nông dân bị bóc lột nặng nề nhưng lại không có lối thoát. Một bộ phận trong số họ bị bần cùng hóa, phải bỏ quê hương ra các thành thị, hầm mỏ để tìm việc, song phần đông phải quay về vì không tìm được việc làm do chủ trương hạn chế mở mang công nghiệp của thực dân Pháp. Một số lượng lớn nông dân phải đi lính làm bia đỡ đạn, hoặc rơi vào vòng tù tội.
Đó là một con đường bần cùng hóa không lối thoát của nông dân Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. Đời sống nhân dân nói chung, đặc biệt là quần chúng nông dân bị áp bức bóc lột sống rất cơ cực, tủi nhục. Họ không có bất cứ một quyền tự do tối thiểu nào, ngoài nghĩa vụ phải đóng các thứ thuế vô lý cho tư bản Pháp. Ở nông thôn, bần nông, cố nông và trung nông là lực lượng cách mạng, là đồng minh tin cậy của giai cấp công nhân.
Phú nông vẫn là những người có thể lôi kéo đi cùng dân tộc trong cuộc chiến tranh giải phóng. Từ thực tế của một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến, dẫn tới thực trạng kẻ cướp ruộng của nông dân Việt Nam là cả đế quốc và địa chủ. Kẻ thù của nông dân không chỉ là địa chủ Việt Nam mà cả đế quốc Pháp, và đế quốc còn nguy hiểm hơn, bởi chính đế quốc vừa xâm lược, cướp ruộng đất, vừa là chỗ dựa cho phong kiến. Yêu cầu giải quyết mâu thuẫn dân tộc của nông dân còn cao hơn, cấp bách hơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn giai cấp.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tư tưởng cách mạng và phương thức vận động cách mạng có phát triển tiến bộ hơn, nhưng chủ trương GPDT đều mang một nhược điểm căn bản, chưa chủ trương dựa vào lực lượng to lớn của nông dân, chưa giải quyết đúng mức mâu thuẫn giữa phong kiến với nông dân. Vì thế, dù các sĩ phu phong kiến yêu nước kiên quyết chiến đấu, cố gắng tìm một con đường cứu nước mới, cũng như hết lòng muốn tập hợp dân tộc, nhưng rốt cuộc phong trào kháng Pháp vẫn mang tính chất phân tán với sự ủng hộ của nông dân từng địa phương. Ở thuộc địa, vấn đề dân tộc tức là vấn đề nông dân. Vì tinh thần dân tộc của nông dân rất cao, không ai tha thiết với mảnh đất Tổ quốc bằng nông dân, cho nên ngoài giai cấp vô sản ra cũng không ai tha thiết với việc giải phóng dân tộc bằng nông dân [18; tr.
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, nông dân Việt Nam luôn luôn là đội quân chủ lực. Trong lịch sử ấy, kẻ thù chủ yếu và trước mắt của nông dân là phong kiến ngoại tộc xâm lược cho nên trong những thời kỳ bị đô hộ hoặc những thời kỳ phải đề phòng xâm lược, mũi nhọn đấu tranh chủ yếu của nông dân không chĩa vào đâu khác mà chính là bọn phong kiến xâm lược [83; tr. Khi Tổ quốc bị xâm lăng thì “… nguyện vọng ấy là nguyện vọng độc lập của đất nước. Lúc bấy giờ, nông dân đoàn kết với nhau dưới một khẩu hiệu chính trị là diệt xâm lược còn khẩu hiệu kinh tế, khẩu hiệu chống phong kiến địa phương hay chống phong kiến Trung ương cũng chỉ là thứ yếu” [83; tr.
Nông dân là một bộ phận đông đảo nhất, lại bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Họ chẳng mất gì mà chỉ được lợi trong cuộc cách mạng phản đế và phản phong kiến. Nếu được giai cấp vô sản lãnh đạo, sức mạnh của nông dân sẽ trở nên lớn lao vô địch. Nông dân là đồng minh chính và gần gũi nhất của giai cấp vô sản [83; tr.
Đế quốc Pháp cướp nước Việt Nam căn bản là bóc lột nông dân - đại bộ phận dân số trong nước. Nông dân bị bóc lột nhiều nhất, tàn tệ nhất; do đó nông dân là người sống khổ cực nhất trong xã hội Việt Nam; về mặt khổ cực, chỉ có “vô sản áo nâu” mới gần như nông dân… Nông dân có ý thức cách mạng rất mạnh mẽ. Ý thức cách mạng của nông dân trước tiên là ý thức dân tộc. Nói đến dân tộc chủ yếu là nói đến nông dân.
Nói phong trào dân tộc Việt Nam tức là nói phong trào nông dân Việt Nam. Ý thức dân tộc của nông dân đã rất mạnh ngay trong thời kỳ phong kiến nghìn 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm trước đây do tình trạng bị mất nước tạo nên” [83; tr.