Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về thềm lục địa 1. Lịch sử hình thành thềm lục địa trong thực tiễn và dưới góc độ khoa học pháp lý Thềm lục địa hỡnh thành từ khi “tạo thiờn lập địa”. Loài người phát hiện ra nó từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Có quy chế pháp lý quốc tế được tất cả các nước công nhận từ khi ký Cụng ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Cuối thế kỷ 19, những cuộc khảo sát biển của nước Anh phát hiện dưới đáy biển, bên ngoài lónh hải, cú một phần đất rộng lớn tiếp giáp đất liền, có nước biển phủ lên trên, nhưng chưa xác định cụ thể nó là gỡ? Giỏ trị của nú đối với đời sống của người ra sao? Khái niệm “thềm lục địa” ra đời cùng với sự kiện một số quốc gia nhận thấy tầm quan trọng của các tài nguyên thiên nhiên ở vùng thềm ngoài khơi bờ biển đối với nền kinh tế quốc dân của họ và tuyên bố giành quyền kiểm soát các hoạt động thăm dò khai thác và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở đó.
Con người trên trái đất trước đây tuy đã biết khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa từ lâu đời, nhưng cũng chưa chú ý đầy đủ hết mọi khía cạnh kinh tế, chính trị và pháp lý của nó. Vì người ta cũng chưa có một quan niệm đầy đủ, rõ ràng về thềm lục địa là như thế nào. Nhưng khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, khả năng của con người ngày càng được vươn xa tới những tài nguyên vô cùng phong phú ở thềm lục địa. Thì ý nghĩa về mặt pháp lý của thềm lục địa ngày càng được quan tâm.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật đã mở ra một tiền đồ hứa hẹn trong việc khai thác nguồn lợi khoáng sản vô cùng giàu có của thềm lục địa, nhất là trong toàn bộ diện tích của các biển và đại dương trên thế giới. Do vậy thềm lục địa là nơi dễ nghiên cứu, dễ khai thác nhất đã khiến cho tất cả các quốc gia ven biển phải quan tâm bảo vệ những nguồn lợi thiên nhiên ở vùng thềm lục địa bao quanh nước mình. Muốn bảo vệ tất cả những tài nguyên thiên nhiên ưu đãi ở thềm lục địa, các quốc gia “đơn phương” đưa ra tuyên bố xác định chủ quyền của quốc gia mình đối với thềm lục địa dưới dạng các văn bản pháp lý như: tuyên bố, quyết định hay những điều ước song phương, đa phương giữa hai hay nhiều quốc 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia nhằm xác định chủ quyền và giải quyết tranh chấp đối với những vùng thềm lục địa bị chồng lấn trên một vùng biển. Tuyên bố đầu tiên là Tuyên bố ngày 29 tháng 9 năm 1916 của Nga hoàng về chủ quyền đối với các đảo không có người ở miền Bắc Xi -Bê - Ri.
Thực ra lúc ấy Chính phủ Nga hoàng mới nhằm tới quyền đánh cá chứ chưa có ý thức về thềm lục địa với những tài nguyên theo quan niệm như ngày nay (năm 1924 chính phủ Liên xô đã chính thức xác định Tuyên bố này). Điều cần lưu ý là người đầu tiên đề cập tới thềm lục địa và tài nguyên ở đó là Hugh Robert Mill sử dụng lần đầu tiên vào năm 1887. Sau đó nó xuất hiện trong đề nghị của nhà hải dương học người Tây Ban Nha Odon de Buer. Trong Hội nghị quốc gia về ngư nghiệp (National Fisiery congeress) ở Madrid năm 1916, ông cho rằng lãnh hải của Tây Ban Nha cần phải được mở rộng ra trên toàn bộ “thềm lục địa” bởi vì đó là một biện pháp có hiệu qủa để giữ gìn và bảo vệ cá không bị đánh bắt một cách ồ ạt và huỷ diệt.
Các chuyên gia người Arhentina Storni và Suarez, người Bồ Đào Nha Almeida d’Eca năm 1921, Barbosa de Magalhaes năm 1926, Nhưng sau đó danh từ “thềm lục địa” hầu như bị lãng quên. Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của khái niệm thềm lục địa ta thấy điểm xuất phát là Hiệp định ký giữa Anh và Vênêzuêla ngày 26 tháng 2 năm 1942 về các vùng đất dưới biển ở vịnh Paria nằm giữa Vênêzuêla và Trinidad (thuộc Anh), trong Hiệp định này chưa ghi rõ thuật ngữ “thềm lục địa” mà chỉ nói chung chung là “đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ngoài lãnh hải của các bên” Hiệp định còn quy định mỗi bên tham gia Hiệp định công nhận chủ quyền của bên kia đối với “vùng đất và lòng đất dưới đáy biển tiếp giáp với bờ biển của nước đó cho tới đường phân chia” Mãi đến tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman ngày 28 tháng 9 năm 1945 thuật ngữ “thềm lục địa” mới được chính thức đề cập tới. Trong bản tuyền bố này Mỹ đã đề căn cứ vào cơ sở địa lý, địa chất của thềm lục địa và đã gắn khái niệm đó với vấn đề tìm kiếm và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Bản tuyền bố nêu rõ: “ Chính phủ Mỹ coi những tài nguyên thiên nhiên ở lòng đất và đáy biển của thềm lục địa nằm dưới biển cả kế cận với bờ biển của Mỹ là thuộc về Mỹ, thuộc quyền tài phán và kiểm soát của Mỹ”.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đồng thời Mỹ cũng đã nêu ra một luận điểm về thềm lục địa có thể được coi là sự kéo dài của lãnh thổ quốc gia ven biển và như vậy đương nhiên là thuộc quyền tài phán của quốc gia đó. Tuy không nói rõ giới hạn ngoài của sự kéo dài đó đến đâu, tuy nhiên sau đó Nhà trắng đã có một bài giải thích rõ thềm lục địa là “vùng đất ngập dưới nước, tiếp giáp với lục địa, độ sâu không quá 150 sải (600 feet)”. Giải thích đó là một bổ sung cho định nghĩa về thềm lục địa của Mỹ. Như vậy trong tuyên bố Truman, khái niệm về mặt pháp lý của thềm lục địa đã khá rõ ràng.
Sau tuyên bố của Tổng thống Mỹ Trumam, một loạt các nước ven biển khác, chủ yếu là các nước Mỹ La tinh, cũng ra những tuyên bố tương tự xác lập quyền tài phán hoặc chủ quyền đối với thềm lục địa kế cận bờ biển của mình như: Cuba 1945, Mêhicô 1945-1949, Achentina 1946, Chilê, Pêru, Equatơ 1947, Côtxta- Rita 1948, Brazin 1950, Irăng, Arập, Xê-út 1949, Tiểu vương quốc Bahrein 1949, Tiểu vương quốc Co-et 1949.Phần lớn các Tuyên bố này đều cho rằng “thềm lục địa là phần kéo dài tự nhiên của đất liền”. Nhưng về giới hạn bên ngoài của thềm lục địa đã có một số quy định khác nhau. Có Tuyên bố nêu thềm lục địa kéo dài đến độ sâu 200m (Tuyên bố của Mêhicô ngày 29 tháng 10 năm 1945). Tuyên bố của Chi lê ngày 25 tháng 6 năm 1947 không xác định rõ độ sâu hay bề rộng là bao nhiêu, trong tuyên bố này Chi lê chỉ nêu rõ: “Chính phủ Chi lê khẳng định và tuyên bố chủ quyền quốc gia đối với vùng biển tiếp giáp với bờ biển của mình bất kể ở độ sâu nào và trong giới hạn cần thiết để bảo vệ, quản lý và khai thác các tài nguyên thiên nhiên.” Thậm chí có những nước như El Slavador lại tuyên bố thềm lục địa của họ kéo dài ra đến “200 hải lý kể từ ngấn nước thuỷ triều thấp nhất của bờ biển”.
Mỹ là quốc gia đầu tiên tuyên bố về thềm lục địa nhưng sau khi các nước khác tuyên bố thì Mỹ lại cùng với Anh kịch liệt chống lại. Sở dĩ như vậy, vì mục đích cơ bản của tuyên bố Truman năm 1945 là nhu cầu tìm kiếm các tài nguyên thiên nhiên dưới đáy biển để phục vụ cho kinh tế của Mỹ sau chiến tranh, còn các bản tuyên bố của các nước Châu Mỹ La tinh đã đe doạ lợi ích của Mỹ và Anh (như trường hợp một số nước tuyên bố đòi cả chủ quyền đối với thềm lục địa như Achentina) Qua quy định của các nước, khái niệm pháp lý về thềm lục địa đã dần dần được xác định và sử dụng ở phạm vi rộng rãi hơn nhưng mới chỉ là các quy phạm tập quán. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Để việc khảo sát, thăm dò, khai thác, nghiên cứu khoa học đối với thềm lục địa theo một trật tự nhất định thì việc ban hành các văn bản pháp luật, hay thể chế hoá các quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia là việc cần thiết nhằm đảm bảo chủ quyền và quyền lợi của quốc gia. Các quy phạm pháp luật còn nhằm mục đích điều chỉnh mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia với nhau, hay giữa quốc gia với cá nhân, pháp nhân nước ngoài trong quá trình tham gia, hợp tác khai thác tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa của một nước.
Từ nhu cầu đó thềm lục địa được đặt ra và đưa vào khoa học pháp lý quốc tế nhằm mục đích xác lập chủ quyền của quốc gia đối với thềm lục địa làm cho ngành luật này có một nội dung kinh tế quan trọng vì: Tổng diện tích thềm lục địa bao quanh các Châu lục lên đến khoảng 27.000 km2, bằng 8% diện tích đáy biển. Phân bổ rất không đồng đều giữa các nước ven biển do cấu trúc địa chất của các nước không giống nhau. Có nước hầu như không có (Colombia), hoặc có thềm lục địa hẹp các nước Ảrập, châu Phi). Có nước có thềm lục địa rộng bao la (Mỹ, Nga, Canada, Ireland, Argentina, Australia, Srilanka.
Do vậy chế định thềm lục địa trong Luật biển quốc tế được ra đời nó song song tồn tại và phát triển với các chế định khác của Luật biển quốc tế và chế định thềm lục địa trong Luật biển của mỗi nước. Để hiểu rõ hơn về mặt pháp lý của các quốc gia trong việc xác lập chủ quyền của mình đối với thềm lục địa thì cần phải nghiên cứu khái niệm về thềm lục địa dưới những góc độ sau: 1. Khái niệm thềm lục địa về mặt địa chất Cho đến nay các nhà địa chất địa mạo đáy biển vẫn chưa thống nhất được một khái niệm về thềm lục địa địa chất. Tuy vậy, theo một số nhà địa chất thì giữa lục địa và nền đại dương có một vùng trung gian.
Cấu tạo địa chất của vùng trung gian liên quan mật thiết với lục địa. Nói một cách khác đó là phần kéo dài tự nhiên của lục địa ra biển. Vùng trung gian này tương đối 20% diện tích đáy đại dương nói chung). Dựa vào cơ cấu địa chất và địa mạo đáy biển và lòng đất dưới đáy biển các nhà khoa học tự nhiên nói trên đã khẳng định thềm lục địa theo khái niệm địa chất là: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.