Chương 1: Khái quát chung về chủ quyền quốc gia và toàn cầu hoá; Chương 2: Vấn đề chủ quyền quốc gia với kinh nghiệm của các nước EU trong quá trình toàn cầu hoá; Chương 3: Việt Nam với vấn đề chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA VÀ TOÀN CẦU HOÁ 1. Khái quát về chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là một thuộc tính chính trị - pháp lý, là cơ sở của nền độc lập chính trị, kinh tế của quốc gia.
Chủ quyền quốc gia không chỉ thu hút sự quan tâm của các triết gia, chính trị gia, luật gia và của những người làm công tác nghiên cứu và hoạt động trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, mà chủ quyền quốc gia ngày nay còn được nhắc tới thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, nó gơi dậy sự tìm hiểm của bất kỳ ai quan tâm đến vấn đề thời sự này. Tuy nhiên khái niệm chủ quyền quốc gia là một khái niệm rất trừu tượng, phức tạp, gây nên sự tranh luận giữa các nhà triết học, luật học và chính trị học và là một khái niệm được giải thích khác nhau theo cách nhìn nhận của người giải thích, chẳng hạn các luật gia quốc tế thường quan tâm tới các thuộc tính liên quan đến một quốc gia độc lập, có chủ quyền trong cộng đồng quốc tế; các chính trị gia thường quan tâm tới nguồn gốc của quyền lực chính trị trong một quốc gia; các luật gia về hiến pháp thường quan tâm tới quyền lực pháp lý tối cao ở một quốc gia, nhất là ở những nước theo thể chế đại nghị. Chính vì vậy, thuật ngữ chủ quyền quốc gia dù đã xuất hiện hàng trăm năm qua, nhưng xung quanh vấn đề này vẫn tồn tại nhiều học thuyết và quan điểm khác nhau gây nhiều tranh cãi giữa các nhà triết học, luật học, chính trị học. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự hình thành một trật tự thế giới mới việc nghiên cứu và thảo luận về vấn đề này thực sự có ý nghĩa.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các học thuyết cổ điển về chủ quyền quốc gia. Bối cảnh hình thành các học thuyết về chủ quyền quốc gia là vào thời kỳ quân chủ chuyên chế ở Tây Âu khoảng thế kỷ XV-XVI. Trong thời kỳ này, với sự tập trung quyền lực vào tay nhà vua, xã hội Tây Âu lúc đó đã lâm vào tình trạng khủng hoảng, mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp phong kiến với các giai tầng khác của xã hội, đặc biệt là giai cấp Tư sản đang phát triển mạnh mẽ.
Những nhà tư tưởng thời kỳ này đã đưa ra hàng loạt các quan điểm tiến bộ nhằm giải phóng con người, chống lại sự cai trị độc đoán, chuyên quyền của giai cấp phong kiến và sự chú ý được tập trung vào các vấn đề như quyền lực chính trị trong xã hội có Nhà nước và pháp luật. Các học thuyết này tồn tại và phát triển qua giai đoạn cực thịnh của chủ nghĩa tư bản. Chính các học thuyết này có ảnh hưởng đến quan niệm chủ quyền quốc gia hiện nay, trong đó tiêu biểu là các học thuyết về chủ quyền quốc gia như: - Học thuyết chủ quyền tuyệt đối - Học thuyết chủ quyền độc lập 1. Học thuyết chủ quyền tuyệt đối.
Học thuyết chủ quyền tuyệt đối ra đời ở Tây Âu vào thế kỷ XV- XVI nhằm chống lại Giáo hoàng và Hoàng đế. Những người đại diện cho học thuyết này là J. Trong cuốn “Le Prince” xuất bản năm 1532, Niccolo Machiaveli đưa ra quan điểm về chủ quyền quốc gia một cách cực đoan như sau. Ông cho rằng chủ quyền quốc gia phải tuyệt đối, và phải được đặt trên mọi quyền lực khác.
Điều này có nghĩa Nhà cầm quyền nếu muốn bành trướng quyền lực có thể vận dụng tất cả các phương thức, thủ đoạn kể cả những thủ đoạn xảo quyệt, trái với luân thường đạo lý. Chủ nghĩa phát xít Đức cũng đã dựa vào học thuyết về chủ quyền tuyệt đối để biện minh cho chế độ độc tài phát xít của mình gây ra đại chiến thế giới thứ hai [54, tr6] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Và trong tác phẩm nổi tiếng “Six books of a Commonwealth, 1606” tạm dịch (sáu tuyển tập về Khối thình vượng chung) của Jeam Bodin (Nhà triết học Phục hưng Pháp) cũng có chủ trương coi chủ quyền quốc gia là tuyệt đối. Nhưng trong tác phẩm này hầu như chỉ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa nhà nước với xã hội công dân, tức là hầu như chỉ đề cập đến khía cạnh đối nội của chủ quyền quốc gia. Xét trên nhiều phương diện, thuyết chủ quyền tuyệt đối là cực đoan đi ngược lại xu thế chung của lịch sử quan hệ quốc tế.
Quan điểm đó trong giai đoạn hội nhập quốc tế lại càng có tính nguy hiểm, bởi điều này cho phép các quốc gia tự đặt ra các quy tắc, luật lệ hành xử riêng của mình, không thừa nhận giá trị ràng buộc pháp lý chung của các cam kết quốc tế, bất chấp pháp luật quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi để những nước có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh lấn át những nước yếu hơn. Điều này gây cản trở cho sự hợp tác bình đẳng giữa các quốc gia trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế. Học thuyết chủ quyền độc lập Đại diện tiêu biểu cho học thuyết này là Charles Rousseau.
Theo ông, chủ quyền quốc gia đồng nghĩa với sự độc lập của quốc gia đó. Trong tác phẩm của mình, Ông giải thích hai khái niệm “ chủ quyền” và “độc lập” có nhiều điểm tương đồng, nhất là ba thuộc tính sau: Quyền lực toàn vẹn, quyền lực chuyên biệt và quyền lực tự chủ quốc gia. Theo quan niệm này, chủ quyền quốc gia phải toàn vẹn, chính quyền được phép can thiệp vào mọi lĩnh vực xét thấy có lợi cho sự tồn tại và phát triển bền vững của quốc gia. Chủ quyền quốc gia phải độc chuyên trên toàn bộ lãnh thổ của mình, trừ trường hợp quốc gia muốn tự mình hạn chế độc quyền này bởi những cam kết quốc tế với nước ngoài và các tổ chức quốc tế.
Chủ quyền quốc gia phải tự chủ, không lệ thuộc vào một quốc gia nào trong quan hệ đối nội và đối ngoại 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét một cách toàn diện thì Học thuyết chủ quyền độc lập là một quan điểm tiến bộ, và nó có nhiều điểm tương đồng với quan điểm hiện đại về chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên học thuyết này vẫn còn những điểm hạn chế như học thuyết này mới chỉ tập trung vào một khía cạnh của chủ quyền quốc gia đó là lĩnh vực đối nội mà chưa đề cập đến khía cạnh đối ngoại của quốc gia. Nó sẽ trở thành thứ lý luận nguy hiểm khi phát triển quan điểm quyền lực tự chủ lên thành quyền lực vô hạn và áp dụng quyền lực đó ra ngoài phạm vi lãnh thổ của quốc gia, dẫn đến tình trạng quốc gia bất chấp mọi nguyên tắc, luật lệ quốc tế sẵn sàng làm mọi cách để đạt được mục đích mong muốn, điều này đi ngược lại với thực tiễn tồn tại của Luật quốc tế. Trên đây là hai học thuyết tiêu biểu nhất về chủ quyền quốc gia được hình thành và phát triển trong thời kỳ giai cấp tư sản đang lớn mạnh và đấu tranh quyết liệt với giai cấp phong kiến giành quyền lực về chính trị.
Một số học thuyết khác về chủ quyền quốc gia. Trong lịch sử pháp luật quốc tế còn tồn tại nhiều học thuyết khác về chủ quyền quốc gia như: - Thuyết chủ quyền tối đa mà đại diện tiêu biểu là G.Scelles, ông cho rằng trong quan hệ quốc tế các quốc gia có chủ quyền tuy là không tuyệt đối nhưng cũng đủ rộng lớn hơn chủ quyền của các thực thể khác trong thế giới này, và do có chủ quyền tối đa đó nên quốc gia giữ vị trí ưu thế trong xã hội quốc tế. - Người ta cũng nhắc tới học thuyết về chủ quyền đối ngoại của những nước tham gia Công ước Montevideo năm 1933 về quyền và nghĩa vụ của quốc gia. Theo học thuyết này, quốc gia phải có một quyền uy chính trị khả dĩ đủ năng lực đối ngoại của quốc gia để giao tiếp với các thực thể chính trị khác trong quan hệ quốc tế, để bảo vệ và duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thuyết chủ quyền nhân dân mà đại diện là Jean Jacques Rousseau (1712 – 1778), trong cuốn “Bàn về Khế ước xã hội” ông cho rằng chủ quyền nhân dân tập trung ở ý tưởng về ý chí chung. Học thuyết này của ông đã phát triển trên cơ sở học thuyết chủ quyền độc lập (chủ quyền bên trong) lên một tầng nấc mới. Kế tiếp ông là John Austin (1790- 1859) đã đưa ra học thuyết về chủ quyền và chủ nghĩa lập hiến. Trong khi đó khái niệm về chủ quyền đối ngoại hay chủ quyền bên ngoài gắn bó với cuộc đấu tranh cho chính quyền nhân dân.
Hai ý tưởng chủ quyền bên trong và chủ quyền bên ngoài hợp nhất lại để tạo thành khái niệm hiện đại là “chủ quyền quốc gia” (National sovereignty) [ 48]. Có thể nói, trên đây là những điểm sáng về tư tưởng, nhưng nhìn chung, các học thuyết này vẫn giải thích vấn đề chủ quyền quốc gia một cách phiến diện mà chưa thực sự đi sâu vào bản chất của vấn đề, đặc biệt chưa làm rõ được hai khía cạnh đối nội và đối ngoài của chủ quyền quốc gia. Song cũng không thể phủ nhận các học thuyết này đã có nhiều đóng góp cho sự hình thành và phát triển của quan niệm ngày nay về chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia theo quan niệm hiện nay Chủ quyền quốc gia là một trong các thuộc tính chính trị - pháp lý của quốc gia.
Nội dung thực tế và cội nguồn tư tưởng hệ của chủ quyền thay đổi trong suốt quá trình lịch sử tuỳ thuộc vào tính chất của hình thái kinh tế xã hội. Trên cơ sở kế thừa những điểm hợp lý, khoa học của những học thuyết cổ điển về chủ quyền quốc gia, quan điểm hiện đại lý giải về chủ quyền quốc gia ở dưới những góc độ sau: Trong cuốn “từ điển ngoại giao”, năm 1973, tập 3, tr.433-435; “Từ điển pháp luật quốc tế”, năm 1982, tr.214-215 định nghĩa Chủ quyền quốc gia được hiểu là sự thống nhất cao của quyền lực nhà nước trên toàn đất nước đó và sự độc lập của quyền lực nước đó trong quan hệ quốc tế 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.