MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Kể từ giữa thế kỷ XX, việc bảo vệ môi trường biển là một trong những vấn đề được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, vì biển có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống của con người. Ô nhiễm biển là một trong những thảm hoạ đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường. Biển rất dễ bị ô nhiễm, nguyên nhân ô nhiễm có nhiều nguồn khác nhau: từ đất liền, từ hoạt động của tàu thuyền, từ khai thác dầu, từ rò rỉ tự nhiên, từ phóng xạ vv.
có thể nói, nguồn ô nhiễm lớn nhất và tiềm ẩn nguy hiểm nhất là từ hoạt động của tàu biển đặc biệt là các tàu chở dầu. Trên thế giới tính từ năm 1967 đến nay đã xảy ra nhiều vụ tràn dầu lớn, gây thiệt hại nặng nề tới môi trường biển cũng như gây thiệt hại về kinh tế cho con người. Khi biển bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống của con người, ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật dưới đáy biển và có tác động to lớn đối với toàn bộ hoạt động của các cảng biển, hoạt động của ngành hàng hải trên phạm vi toàn thế giới, một hoạt động được coi như là xương sống của thương mại quốc tế ngày nay. Những thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển trước mắt và lâu dài cũng như các thiệt hại mà những người có liên quan trực tiếp phải gánh chịu như hàng hải, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch vv… là rất lớn và đòi hỏi tốn kém thời gian, của cải và công sức cho công tác ngăn chặn, hạn chế, khắc phục môi trường biển, cũng như việc tính toán thiệt hại để đòi bồi thường thoả đáng là rất khó khăn.
Việt Nam là một quốc gia ven biển có vùng biển thuộc chủ quyền rộng hơn 3 lần diện tích đất liền và bờ biển dài hơn 3260 km. Biển của Việt Nam nằm trên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển của Việt Nam. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.
Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên [116]. Do vậy, nghiên cứu vấn đề ô nhiễm biển do dầu từ tàu và nghiên cứu những quy định của pháp luật của các quốc gia trên thế giới về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển đã và đang là vấn đề được rất nhiều các học giả ở các quốc gia trên thế giới quan tâm, nó vừa là vấn đề lý luận và thực tiễn bức xúc hiện nay, đồng thời đây cũng là vấn đề mang tính cấp thiết. Chính lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu” làm luận án tiến sĩ. Tình hình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án Các đề tài nghiên cứu liên quan tới ô nhiễm môi trường, ô nhiễm biển do dầu, chống ô nhiễm dầu từ tàu không phải là một chủ đề mới ở Việt Nam, bởi lẽ ô nhiễm biển là một trong những thảm họa đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường.
Khi biển bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội, đời sống của con người, hệ sinh thái. Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu liên quan đến ô nhiễm môi trường, ô nhiễm biển do dầu, chống ô nhiễm dầu từ tàu đã được nghiên cứu nhiều từ những thập niên cuối của thế kỷ XX bởi các cơ quan nghiên cứu uy tín về lĩnh vực này, ví dụ: Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Địa lý; Viện Tài nguyên Môi trường Biển, Viện Khoa học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và Công nghệ Việt Nam; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Trung tâm Luật biển thuộc Khoa Luật, ĐHQGHN vv. Các nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau: luật học, kinh tế học, địa chất, môi trường, y học và được xem xét trên cách khía cạnh khác nhau như: ô nhiễm dầu ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, thiệt hại về kinh tế, thiệt hại đối với môi trường, tác động đến hệ sinh thái vv. và những nghiên cứu đó cũng thể hiện trên quy mô khác nhau: quy mô là một vùng, khu vực, một hệ thống tự nhiên và được xem xét trong những hoàn cảnh rất đa dạng như: ô nhiễm dầu ảnh hưởng đến các bãi cát biển, các rặng san hô, rừng ngập mặt và các hệ thống đầm nuôi, đến các bãi triều cửa sông, suy giảm nguồn giống, suy giảm số loài.
Các nghiên cứu liên quan đến tràn dầu Ô nhiễm biển và đại dương do dầu luôn được xem là nguồn ô nhiễm nguy hiểm của môi trường biển, trong đó nguồn ô nhiễm do dầu từ tàu là đáng quan tâm hơn cả. Hậu quả của ô nhiễm biển do dầu từ tàu trong các vụ tai nạn rất nặng nề, thảm khốc, khi sự cố tràn dầu xảy ra, người ta thường ví nó như một thảm hoạ lớn của môi trường biển [84, tr. Chúng ta không thể đoán trước được thảm hoạ của các vụ tràn dầu và rất khó để chúng ta có thể phân tích hết những thiệt hại của những vụ tràn dầu (thiệt hại về kinh tế, những mất mát đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên). Chính vì vậy, các đề tài ô nhiễm dầu trở nên hấp dẫn các nhà nghiên cứu, thu hút trí tuệ của nhiều nhà khoa học và nhiều cơ quan nghiên cứu, và là vấn đề quan tâm của cả xã hội.
Trong bối cảnh hiện nay, ô nhiễm dầu là một chủ đề nóng mà bất kỳ một tổ chức, một ngành nào cũng cần quan tâm xem xét và nghiên cứu, chính vì thế đã dẫn đến nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở cấp quốc gia, cấp vùng và cấp tỉnh. Nguyễn Đình Dương (2010) đã nghiên cứu đề tài “Ô nhiễm dầu trên vùng biển 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam và Biển Đông” [35]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày khá rõ nét về các nguồn gây ô nhiễm dầu đối với vùng biển Việt Nam, theo đó các tác giả đã chỉ ra có 6 loại nguồn ô nhiễm biển chính là: ô nhiễm dầu tự nhiên; ô nhiễm do các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; ô nhiễm do các hoạt động giao thông vận tải biển; ô nhiễm từ các tàu bị đánh đắm trong chiến tranh thế giới thứ hai; ô nhiễm do các hoạt động kinh tế xã hội ven bờ; ô nhiễm dầu không rõ nguồn gốc; cũng trong nghiên cứu này các tác giả đã đưa ra cơ chế lan truyền và phân vùng nguy cơ ô nhiễm dầu; đồng thời cũng đưa ra quy trình công nghệ dự báo lan truyền ô nhiễm dầu do sự cố để phục vụ cho công tác xử lý ô nhiễm và giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các công nghệ trên thế giới, các nhà khoa học đã đề xuất các phương án áp dụng công nghệ phù hợp nhất trong các điều kiện khí hậu, hải văn cụ thể của biển Việt Nam.
Vấn đề mối quan hệ giữa nguy cơ tràn dầu và các biến cố địa chất tự nhiên trên vùng biển Việt Nam còn được đề cập trong nghiên cứu của Phan Trọng Trịnh (2010), với chủ đề “Nghiên cứu mối quan hệ giữa nguy cơ dầu tràn và các biến cố địa chất tự nhiên trên vùng biển Việt Nam”, trong nghiên cứu này, các tác giả đã làm rõ vai trò của cấu trúc kiến tạo, kiến tạo trẻ và địa động lực hiện đại trên thềm lục địa Biển Đông Việt Nam đối với nguy cơ tràn dầu tự nhiên cũng như đưa ra những dự báo nguy cơ tràn dầu do các biến cố địa chất; đánh giá chuyển dịch và biến dạng của thềm lục địa Việt Nam và lân cận liên quan với tràn dầu tự nhiên; mô phỏng tràn dầu tự nhiên liên quan với các biến cố địa chất; đưa ra dự báo nguy cơ tràn dầu tự nhiên, đưa ra sơ đồ các điểm có tiềm ẩn tràn dầu tự nhiên và quy trình nghiên cứu kèm theo bản đồ phân vùng [7, tr. Có nhiều nghiên cứu đi sâu về các vấn đề lý luận liên quan đến ô nhiễm dầu như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Diến và các tác giả khác. Các công trình nghiên cứu này đã đề cập khá cơ bản và đầy đủ về bức tranh ô nhiễm biển 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do dầu ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời hệ thống hóa và phân tích các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành từ Trung ương tới địa phương quy định về phòng, chống ô nhiễm biển do dầu. Đây là các công trình có tính lý thuyết, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá về pháp luật về ô nhiễm dầu.
Trong số các công trình đó có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của tác giả Nguyễn Bá Diến “Xây dựng và cơ sở khoa học, pháp lý cho việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam.” Trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung nghiên cứu lý luận cơ bản khoa học pháp lý hiện đại, kinh nghiệm quốc tế và các nước trong việc thực thi pháp luật về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển, từ đó đánh giá những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm tham khảo, vận dụng đối với Việt Nam; xây dựng cơ sở pháp lý của việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển theo các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này, và dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại và pháp luật hiện hành của Việt Nam.