Luận văn thạc sĩ về pháp luật quốc tế chống ô nhiễm dầu từ tàu biển - Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

231
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TRÊN BIỂN TỪ TÀU THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

1.1. Một số vấn đề lý luận chung về ô nhiễm dầu trên biển

1.2. Khái niệm về dầu, ô nhiễm môi trường biển

1.3. Khái niệm về “Tàu”, “Tàu biển”

1.4. Khái niệm về chống ô nhiễm dầu. Về trách nhiệm dân sự của chủ tàu

1.5. Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu

1.5.1. Pháp luật quốc tế về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu

1.5.2. Pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu

1.6. Một số vấn đề lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

1.7. Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu từ tàu

1.8. Thực trạng và nguyên nhân ô nhiễm dầu trên biển

1.8.1. Thực trạng ô nhiễm dầu trên biển từ tàu

1.8.2. Nguyên nhân ô nhiễm dầu trên biển

1.8.3. Thực trạng ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam

2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TỪ TÀU BIỂN

2.1. Công ước quốc tế về luật biển 1982 (UNCLOS 1982)

2.2. Công ước quốc tế liên quan đến sự can thiệp trên biển cả trong trường hợp tai nạn gây ra ô nhiễm dầu 1969 (Intervention 1969)

2.3. Các công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm dầu

2.3.1. Công ước quốc tế về Ngăn ngừa ô nhiễm Biển do Dầu (OILPOL 54)

2.3.2. Công ước quốc tế về Ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra, 1973 được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định thư 1978 (MARPOL73/78)

2.3.3. Công ước quốc tế về An toàn sinh mạng con người trên biển 1974 và Nghị định thư bổ sung 1978 (SOLAS 74/78)

2.3.4. Công ước quốc tế về Tiêu chuẩn huấn luyện, Cấp chứng chỉ và Trực ca cho Thuyền viên, 1978 sửa đổi 1995 (STCW 78/95)

2.3.5. Công ước quốc tế về sẵn sàng, hợp tác và ứng phó đối với ô nhiễm dầu 1990 (OPRC 1990)

2.4. Các công ước quốc tế về trách nhiệm pháp lý và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu

2.4.1. Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm dầu 1969 (CLC 1969)

2.4.2. Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế để bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu (công ước quỹ 1971)

2.4.3. Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất do ô nhiễm 1992 (CLC 1992)

2.4.4. Công ước quốc tế về thành lập quỹ quốc tế để bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu 1992 (FUND 1992)

2.4.5. Nghị định thư bổ sung Quỹ 2003

2.4.6. Công ước quốc tế về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại liên quan đến vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm bằng đường biển 1996 (HNS 1996)

2.4.7. Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu nhiên liệu (Bunker 2001)

3. PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TỪ TÀU BIỂN

3.1. Pháp luật của Nhật Bản về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.1.1. Quy định của pháp luật Nhật Bản về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.1.2. Một số đánh giá pháp luật Nhật Bản về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.2. Pháp luật của Trung Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.2.1. Quy định của pháp luật Trung Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.2.2. Một số đánh giá về pháp luật Trung Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.3. Pháp luật Hàn Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.3.1. Quy định của pháp luật Hàn Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc giải quyết sự cố Hebei Spirit

3.3.3. Đánh giá pháp luật Hàn Quốc về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.4. Bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu pháp luật một số quốc gia về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

3.4.1. Bài học thứ nhất

3.4.2. Bài học thứ hai

3.4.3. Bài học thứ ba

3.4.4. Bài học thứ tư

4. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG Ô NHIỄM DẦU TỪ TÀU BIỂN

4.1. Pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

4.2. Quy định của pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

4.3. Các công ước quốc tế về chống ô nhiễm dầu từ tàu Việt Nam đã tham gia

4.4. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

4.4.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

4.4.2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển

4.4.3. Xây dựng Luật chống ô nhiễm dầu từ tàu biển của Việt Nam

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng quan về ô nhiễm dầu trên biển từ tàu Thực trạng và thách thức

Ô nhiễm dầu trên biển từ tàu là một vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường và kinh tế toàn cầu. Từ giữa thế kỷ XX, sự gia tăng hoạt động hàng hải đã dẫn đến nhiều vụ tràn dầu lớn, gây thiệt hại nặng nề cho hệ sinh thái biển. Các nguyên nhân chính bao gồm sự cố kỹ thuật, tai nạn giao thông và hành vi vi phạm quy định. Việt Nam, với vùng biển rộng lớn và hoạt động hàng hải sôi động, cũng không nằm ngoài vòng xoáy của vấn đề này. Việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp chống ô nhiễm dầu từ tàu là cần thiết để bảo vệ môi trường biển và phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và nguyên nhân ô nhiễm dầu trên biển

Ô nhiễm dầu trên biển được định nghĩa là sự hiện diện của dầu trong môi trường biển, gây ảnh hưởng xấu đến sinh vật và hệ sinh thái. Nguyên nhân chính bao gồm sự cố tràn dầu từ tàu, rò rỉ từ các giếng dầu, và các hoạt động khai thác dầu. Các vụ tràn dầu lớn như vụ Exxon Valdez và Deepwater Horizon đã để lại hậu quả nghiêm trọng, không chỉ về môi trường mà còn về kinh tế.

1.2. Tác động của ô nhiễm dầu đến môi trường biển

Ô nhiễm dầu gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường biển, bao gồm sự chết chóc của các loài sinh vật biển, suy giảm chất lượng nước và ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn. Hệ sinh thái biển, bao gồm rặng san hô và các loài cá, đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc phục hồi các khu vực bị ô nhiễm thường tốn kém và mất nhiều thời gian.

II. Các quy định pháp luật quốc tế về chống ô nhiễm dầu từ tàu

Pháp luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và ngăn chặn ô nhiễm dầu từ tàu. Các công ước quốc tế như MARPOL và CLC đã được thiết lập để quy định trách nhiệm và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu. Những quy định này không chỉ áp dụng cho các quốc gia mà còn cho các tổ chức quốc tế, nhằm đảm bảo sự hợp tác toàn cầu trong việc bảo vệ môi trường biển.

2.1. Công ước MARPOL và vai trò của nó trong chống ô nhiễm

Công ước MARPOL (Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu biển) là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhất trong việc chống ô nhiễm dầu. Công ước này quy định các tiêu chuẩn về thiết kế và vận hành tàu, nhằm giảm thiểu rủi ro tràn dầu. Các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện và giám sát các quy định này.

2.2. Công ước CLC và trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Công ước CLC (Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu) quy định trách nhiệm của chủ tàu trong việc bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra. Công ước này tạo ra một cơ chế bồi thường rõ ràng, giúp các nạn nhân có thể yêu cầu bồi thường một cách hợp pháp và hiệu quả.

III. Thực trạng ô nhiễm dầu trên biển Việt Nam và các biện pháp ứng phó

Việt Nam, với bờ biển dài và hoạt động hàng hải sôi động, đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm dầu nghiêm trọng. Các vụ tràn dầu từ tàu chở dầu và các hoạt động khai thác dầu khí đã gây ra nhiều thiệt hại cho môi trường biển. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quy định nhằm ngăn chặn và ứng phó với ô nhiễm dầu, nhưng vẫn cần cải thiện hơn nữa để bảo vệ môi trường biển.

3.1. Tình hình ô nhiễm dầu tại các vùng biển Việt Nam

Các vùng biển Việt Nam, đặc biệt là khu vực ven bờ, thường xuyên phải đối mặt với ô nhiễm dầu từ các hoạt động hàng hải. Các vụ tràn dầu nhỏ và lớn đã xảy ra, gây thiệt hại cho hệ sinh thái và kinh tế địa phương. Việc giám sát và quản lý ô nhiễm dầu cần được tăng cường để bảo vệ môi trường biển.

3.2. Các biện pháp ứng phó và khắc phục ô nhiễm dầu

Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp ứng phó với ô nhiễm dầu, bao gồm việc thành lập các đội ứng cứu khẩn cấp và triển khai các công nghệ xử lý ô nhiễm. Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực và trang bị cho các đội ứng cứu là cần thiết để đảm bảo hiệu quả trong việc xử lý các sự cố tràn dầu.

IV. Kết luận và hướng đi tương lai trong chống ô nhiễm dầu từ tàu

Chống ô nhiễm dầu từ tàu là một thách thức lớn đối với Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế để xây dựng các quy định pháp lý hiệu quả và thực thi nghiêm ngặt. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức cộng đồng, cải thiện công nghệ và tăng cường năng lực ứng phó với ô nhiễm dầu.

4.1. Tăng cường hợp tác quốc tế trong chống ô nhiễm dầu

Hợp tác quốc tế là yếu tố quan trọng trong việc chống ô nhiễm dầu. Các quốc gia cần chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và công nghệ để nâng cao hiệu quả trong việc ngăn chặn và ứng phó với ô nhiễm dầu. Các diễn đàn quốc tế cũng cần được tổ chức thường xuyên để thảo luận và đưa ra các giải pháp chung.

4.2. Đề xuất các giải pháp cải thiện pháp luật Việt Nam về chống ô nhiễm dầu

Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về chống ô nhiễm dầu, bao gồm việc xây dựng các quy định cụ thể và rõ ràng hơn về trách nhiệm của các bên liên quan. Cần có các biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ môi trường biển.

19/08/2025
Luận văn thạc sĩ pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Kể từ giữa thế kỷ XX, việc bảo vệ môi trường biển là một trong những vấn đề được cả cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm, vì biển có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống của con người. Ô nhiễm biển là một trong những thảm hoạ đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường. Biển rất dễ bị ô nhiễm, nguyên nhân ô nhiễm có nhiều nguồn khác nhau: từ đất liền, từ hoạt động của tàu thuyền, từ khai thác dầu, từ rò rỉ tự nhiên, từ phóng xạ vv.

có thể nói, nguồn ô nhiễm lớn nhất và tiềm ẩn nguy hiểm nhất là từ hoạt động của tàu biển đặc biệt là các tàu chở dầu. Trên thế giới tính từ năm 1967 đến nay đã xảy ra nhiều vụ tràn dầu lớn, gây thiệt hại nặng nề tới môi trường biển cũng như gây thiệt hại về kinh tế cho con người. Khi biển bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống của con người, ảnh hưởng đến toàn bộ sinh vật dưới đáy biển và có tác động to lớn đối với toàn bộ hoạt động của các cảng biển, hoạt động của ngành hàng hải trên phạm vi toàn thế giới, một hoạt động được coi như là xương sống của thương mại quốc tế ngày nay. Những thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển trước mắt và lâu dài cũng như các thiệt hại mà những người có liên quan trực tiếp phải gánh chịu như hàng hải, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, ngư nghiệp, du lịch vv… là rất lớn và đòi hỏi tốn kém thời gian, của cải và công sức cho công tác ngăn chặn, hạn chế, khắc phục môi trường biển, cũng như việc tính toán thiệt hại để đòi bồi thường thoả đáng là rất khó khăn.

Việt Nam là một quốc gia ven biển có vùng biển thuộc chủ quyền rộng hơn 3 lần diện tích đất liền và bờ biển dài hơn 3260 km. Biển của Việt Nam nằm trên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển của Việt Nam. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới.

Mỗi ngày có khoảng từ 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó có khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5.000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30.000 tấn trở lên [116]. Do vậy, nghiên cứu vấn đề ô nhiễm biển do dầu từ tàu và nghiên cứu những quy định của pháp luật của các quốc gia trên thế giới về chống ô nhiễm dầu từ tàu biển đã và đang là vấn đề được rất nhiều các học giả ở các quốc gia trên thế giới quan tâm, nó vừa là vấn đề lý luận và thực tiễn bức xúc hiện nay, đồng thời đây cũng là vấn đề mang tính cấp thiết. Chính lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về chống ô nhiễm dầu trên biển từ tàu” làm luận án tiến sĩ. Tình hình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến luận án Các đề tài nghiên cứu liên quan tới ô nhiễm môi trường, ô nhiễm biển do dầu, chống ô nhiễm dầu từ tàu không phải là một chủ đề mới ở Việt Nam, bởi lẽ ô nhiễm biển là một trong những thảm họa đáng ngại nhất của sự hủy hoại môi trường.

Khi biển bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động kinh tế, xã hội, đời sống của con người, hệ sinh thái. Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu liên quan đến ô nhiễm môi trường, ô nhiễm biển do dầu, chống ô nhiễm dầu từ tàu đã được nghiên cứu nhiều từ những thập niên cuối của thế kỷ XX bởi các cơ quan nghiên cứu uy tín về lĩnh vực này, ví dụ: Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Địa lý; Viện Tài nguyên Môi trường Biển, Viện Khoa học 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và Công nghệ Việt Nam; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Trung tâm Luật biển thuộc Khoa Luật, ĐHQGHN vv. Các nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau: luật học, kinh tế học, địa chất, môi trường, y học và được xem xét trên cách khía cạnh khác nhau như: ô nhiễm dầu ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, thiệt hại về kinh tế, thiệt hại đối với môi trường, tác động đến hệ sinh thái vv. và những nghiên cứu đó cũng thể hiện trên quy mô khác nhau: quy mô là một vùng, khu vực, một hệ thống tự nhiên và được xem xét trong những hoàn cảnh rất đa dạng như: ô nhiễm dầu ảnh hưởng đến các bãi cát biển, các rặng san hô, rừng ngập mặt và các hệ thống đầm nuôi, đến các bãi triều cửa sông, suy giảm nguồn giống, suy giảm số loài.

Các nghiên cứu liên quan đến tràn dầu Ô nhiễm biển và đại dương do dầu luôn được xem là nguồn ô nhiễm nguy hiểm của môi trường biển, trong đó nguồn ô nhiễm do dầu từ tàu là đáng quan tâm hơn cả. Hậu quả của ô nhiễm biển do dầu từ tàu trong các vụ tai nạn rất nặng nề, thảm khốc, khi sự cố tràn dầu xảy ra, người ta thường ví nó như một thảm hoạ lớn của môi trường biển [84, tr. Chúng ta không thể đoán trước được thảm hoạ của các vụ tràn dầu và rất khó để chúng ta có thể phân tích hết những thiệt hại của những vụ tràn dầu (thiệt hại về kinh tế, những mất mát đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên). Chính vì vậy, các đề tài ô nhiễm dầu trở nên hấp dẫn các nhà nghiên cứu, thu hút trí tuệ của nhiều nhà khoa học và nhiều cơ quan nghiên cứu, và là vấn đề quan tâm của cả xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, ô nhiễm dầu là một chủ đề nóng mà bất kỳ một tổ chức, một ngành nào cũng cần quan tâm xem xét và nghiên cứu, chính vì thế đã dẫn đến nhiều nghiên cứu về vấn đề này ở cấp quốc gia, cấp vùng và cấp tỉnh. Nguyễn Đình Dương (2010) đã nghiên cứu đề tài “Ô nhiễm dầu trên vùng biển 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam và Biển Đông” [35]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày khá rõ nét về các nguồn gây ô nhiễm dầu đối với vùng biển Việt Nam, theo đó các tác giả đã chỉ ra có 6 loại nguồn ô nhiễm biển chính là: ô nhiễm dầu tự nhiên; ô nhiễm do các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; ô nhiễm do các hoạt động giao thông vận tải biển; ô nhiễm từ các tàu bị đánh đắm trong chiến tranh thế giới thứ hai; ô nhiễm do các hoạt động kinh tế xã hội ven bờ; ô nhiễm dầu không rõ nguồn gốc; cũng trong nghiên cứu này các tác giả đã đưa ra cơ chế lan truyền và phân vùng nguy cơ ô nhiễm dầu; đồng thời cũng đưa ra quy trình công nghệ dự báo lan truyền ô nhiễm dầu do sự cố để phục vụ cho công tác xử lý ô nhiễm và giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, phát triển kinh tế xã hội. Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các công nghệ trên thế giới, các nhà khoa học đã đề xuất các phương án áp dụng công nghệ phù hợp nhất trong các điều kiện khí hậu, hải văn cụ thể của biển Việt Nam.

Vấn đề mối quan hệ giữa nguy cơ tràn dầu và các biến cố địa chất tự nhiên trên vùng biển Việt Nam còn được đề cập trong nghiên cứu của Phan Trọng Trịnh (2010), với chủ đề “Nghiên cứu mối quan hệ giữa nguy cơ dầu tràn và các biến cố địa chất tự nhiên trên vùng biển Việt Nam”, trong nghiên cứu này, các tác giả đã làm rõ vai trò của cấu trúc kiến tạo, kiến tạo trẻ và địa động lực hiện đại trên thềm lục địa Biển Đông Việt Nam đối với nguy cơ tràn dầu tự nhiên cũng như đưa ra những dự báo nguy cơ tràn dầu do các biến cố địa chất; đánh giá chuyển dịch và biến dạng của thềm lục địa Việt Nam và lân cận liên quan với tràn dầu tự nhiên; mô phỏng tràn dầu tự nhiên liên quan với các biến cố địa chất; đưa ra dự báo nguy cơ tràn dầu tự nhiên, đưa ra sơ đồ các điểm có tiềm ẩn tràn dầu tự nhiên và quy trình nghiên cứu kèm theo bản đồ phân vùng [7, tr. Có nhiều nghiên cứu đi sâu về các vấn đề lý luận liên quan đến ô nhiễm dầu như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Bá Diến và các tác giả khác. Các công trình nghiên cứu này đã đề cập khá cơ bản và đầy đủ về bức tranh ô nhiễm biển 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do dầu ở Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời hệ thống hóa và phân tích các văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành từ Trung ương tới địa phương quy định về phòng, chống ô nhiễm biển do dầu. Đây là các công trình có tính lý thuyết, làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá về pháp luật về ô nhiễm dầu.

Trong số các công trình đó có thể kể đến đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của tác giả Nguyễn Bá Diến “Xây dựng và cơ sở khoa học, pháp lý cho việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên vùng biển Việt Nam.” Trong nghiên cứu này, tác giả đã tập trung nghiên cứu lý luận cơ bản khoa học pháp lý hiện đại, kinh nghiệm quốc tế và các nước trong việc thực thi pháp luật về đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu gây ra trên các vùng biển, từ đó đánh giá những thành công, hạn chế và những bài học kinh nghiệm tham khảo, vận dụng đối với Việt Nam; xây dựng cơ sở pháp lý của việc đánh giá và đòi bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu trên các vùng biển theo các điều ước quốc tế trong lĩnh vực này, và dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại và pháp luật hiện hành của Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ