Chương 1: Quy định về Chống bán phá giá của Trung Quốc; Chương 2: Thực tiễn về hoạt động chống bán phá giá của Trung Quốc; Chương 3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam. TIEU LUAN MOI download :10skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 QUY ĐỊNH VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC 1.1 Các đạo luật của Trung Quốc có liên quan đến Bán phá giá. Về cơ bản, có thể tóm lược quá trình ban hành các đạo luật liên quan đến vấn đề chống bán phá giá của Trung Quốc như sau: Luật ngoại thương năm 1994, được sửa đổi, bổ sung năm 2004; Luật chống bán phá giá và chống trợ cấp có hiệu lực vào tháng 4 năm 1997; Ngày 01/01/2002, Trung Quốc ban hành hai Quy định mới là: “Các quy định về chống bán phá giá” và “ Các quy định về chống trợ cấp”; Tháng 3 năm 2004, Trung Quốc đã sửa đổi, bổ sung quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2004. Nhìn chung, các đạo luật liên quan đến chống bán phá giá của Trung Quốc có sự thay đổi cho phù hợp với từng giai đoạn.
Việc tìm hiểu nội dung từng đạo luật nói trên có thể đánh giá được bước phát triển trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về chống bán phá giá của Trung Quốc để phù hợp với pháp luật quốc tế. Luật Ngoại thương ban hành năm 1994 và được sửa đổi, bổ sung năm 2004. Đây là nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành.
Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương. Luật Ngoại thương được coi là bước phát triển quan trọng nhất làm thay đổi chế độ thương mại quốc tế của Trung Quốc. Trung Quốc cam kết cho phép tất cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế trừ danh mục một số mặt hàng cụ thể là đối tượng của kinh doanh nhà nước trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập. Luật sửa đổi nhằm thực thi các cam kết có hiệu lực vào ngày 01/07/2004 gắn liền với lĩnh vực phân phối nội địa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
TIEU LUAN MOI download :11skknchat@gmail.com Để cụ thể hoá các quy định về các biện pháp khắc phục thương mại, năm 1997 Hội đồng nhà nước Trung Quốc đã ban hành các quy định và thủ tục kiện chống bán phá giá và đối kháng, gọi là các quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp của CH DCND Trung Hoa (thường được gọi là Quy định cũ). Quy định này gồm 42 điều nhằm xem xét việc đánh thuế đối với mặt hàng ế thừa và được hưởng trợ cấp của Chính phủ nước ngoài nhập khẩu vào bán phá giá ở Trung Quốc, hướng dẫn các Công ty trong nước cách thức thưa kiện về những vụ tranh chấp, các biện pháp “trả đũa” với những nước áp dụng các mức thuế mang tính kỳ thị với hàng hoá của Trung Quốc. Mặc dù, các quy định được soạn thảo bằng cách tham khảo Hiệp định các biện pháp đối kháng, chống trợ cấp và chống bán phá giá của WTO, tuy nhiên còn rất nhiều điều khoản trong đó khá chung chung, hầu như không hướng dẫn về việc áp dụng các quy định vào thực tế như thế nào. Hơn nữa, một số điều khoản trong đó khác với trong các hiệp định của WTO.
Trong suốt quá trình đàm phán gia nhập WTO của Trung Quốc, một số thành viên WTO lo ngại rằng hệ quả của việc áp dụng các điều khoản này là các cuộc điều tra về các biện pháp khắc phục thương mại mà chính quyền Trung Quốc tiến hành sẽ không phù hợp với các quy định của WTO nếu như Trung Quốc trở thành thành viên của WTO. Sau 15 năm đàm phán căng thẳng, Trung Quốc chính thức trở thành thành viên thứ 143 của WTO vào ngày 11 tháng 12 năm 2001. Việc gia nhập WTO đã tác động lớn đến hệ thống pháp luật và thể chế của Trung Quốc. Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc đã tiến hành một đợt rà soát pháp luật toàn diện.
Theo đó, Trung Quốc phải bãi bỏ các quy định cũ và ban hành hai quy định mới là “Các quy định về chống bán phá giá” và “Các quy định về chống trợ cấp” bằng cách tách các vấn đề về chống bán phá giá ra khỏi các vấn đề về trợ cấp đối kháng. Các quy định này có hiệu lực từ 01/01/2002 ngay sau khi lộ trình gia nhập vào WTO được Quốc hội Trung Quốc phê chuẩn. Quy định mới về chống bán phá giá được đưa ra một cách toàn diện và cụ thể với 59 điều khoản trong 6 chương. Các quy định này được chi tiết hoá bởi rất nhiều các quy định tạm thời do Bộ Hợp Tác Kinh Tế và Ngoại Thương (MOFTEC) và Hội đồng nhà nước về Thương mại và Kinh tế (SETC) ban hành.
Theo Điều 71 Hiến pháp Trung Quốc, đối với các vấn đề thuộc quyền hạn của chính quyền, các bộ, các uỷ ban và các cơ quan ban ngành khác của Nhà nước có thể ban hành các quy định phù hợp với luật quốc gia, các quyết định và chỉ thị mang tính hành chính của Hội đồng nhà nước. Trong thực tế các quy định này tồn tại dưới hình thức các quy TIEU LUAN MOI download :12skknchat@gmail.com định tạm thời do chưa có một luật hay quy định hành chính hiện hành nào phù hợp hoặc do Quốc hội hay Uỷ ban Nhà nước chưa sẵn sàng soạn thảo luật cho một vấn đề cụ thể nhưng các quy định lại trở nên rất cần thiết. Người ta dự định rằng các quy định tạm thời sẽ dần được thay thế bởi các luật cụ thể hay các quy định hành chính. Quy định về chống bán phá giá và chống trợ cấp đã được sửa đổi vào tháng 3/2004 và có hiệu lực từ 01/06/2004.
Quy định về chống bán phá giá năm 2004 bao gồm nhiều vấn đề từ xác định việc bán phá giá, tính toán biên độ, xác định thiệt hại, quy trình điều tra, thuế chống bán phá giá, cam kết về giá, rà soát cuối kỳ và thông báo. Vào tháng 10/2003, MOFCOM đã ban hành “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống bán phá giá” và “Quy định về thiệt hại ngành trong cuộc điều tra chống trợ cấp”.2 Khái niệm về Bán phá giá của Trung Quốc Theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì khái niệm “Bán phá giá” được nêu tại Hiệp định về việc thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại 1994 (GATT 1994): “Một sản phẩm bị coi là Bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường” [10]. Đối với Trung Quốc, thuật ngữ “Bán phá giá” được đưa ra tại Điều 3, Các quy định về chống bán phá giá có hiệu lực từ ngày 1/1/2001, cụ thể là: “Bán phá giá có nghĩa là một sản phẩm nhập khẩu được giới thiệu, trong điều kiện thương mại bình thường, vào thương mại trong Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa tại một mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của nó” [2]. Để hiểu rõ về khái niệm bán phá giá, ta sẽ đi sâu nghiên cứu về “Giá xuất khẩu” và “Giá trị thông thường”.
Theo Quy định về chống bán phá giá của Trung Quốc có đưa ra khái niệm khá cụ thể về Giá trị thông thường. Tại Điều 4 của Quy định này [2] có đưa ra 2 cách xác định giá trị thông thường như sau : Giá trị thông thường của một sản phẩm nhập khẩu sẽ được xác định theo các phương pháp sau đây bằng cách phân biệt giữa các trường hợp khác nhau: TIEU LUAN MOI download :13skknchat@gmail. Trường hợp có giá so sánh đối với sản phẩm giống với sản phẩm nhập khẩu trong quá trình thương mại thông thường tại thị trường nội địa của nước (khu vực) xuất khẩu, giá so sánh đó sẽ là giá trị thông thường; 2. Trường hợp không có hoạt động mua bán sản phẩm giống với sản phẩm nhập khẩu trong quá trình thương mại thông thường tại thị trường nội địa của nước (khu vực) xuất khẩu, hoặc giá và chất lượng của hàng hóa không cho phép một sự so sánh công bằng, giá trị thông thường sẽ là giá so sánh của sản phẩm giống nhau khi được xuất khẩu vào nước (khu vực) thứ ba thích hợp, hoặc chi phí sản xuất sản phẩm giống nhau tại nước (khu vực) xuất xứ cộng với một giá trị hợp lý cho chi phí và lợi nhuận.
Trường hợp một sản phẩm không được nhập khẩu trực tiếp từ nước (khu vực) xuất xứ, giá trị thông thường sẽ được xác định theo Điểm 1 nêu trên. Tuy nhiên, với tình huống là sản phẩm này hoàn toàn chuyển qua nước xuất khẩu, hoặc sản phẩm này không được sản xuất tại nước (khu vực) xuất khẩu, hoặc không có giá so sánh đối với sản phẩm này tại nước xuất khẩu, giá của sản phẩm giống nhau tại nước (khu vực) xuất xứ có thể được chọn làm giá thông thường. [2] Theo hiệp định chống bán phá giá năm 1994 của WTO thì giá trị thông thường nói chung là giá của sản phẩm tương tự được bán trên thị trường nội địa của nước xuất khẩu đến người tiêu dùng trong quá trình thương mại thông thường. [10] Tuy nhiên, một trong những vấn đề phức tạp nhất trong điều tra bán phá giá là liệu việc tiêu thụ trên thị trường nội địa có được "thực hiện trong quá trình thương mại thông thường" hay không? Một trong những cơ sở để xác định điều đó là so sánh giá bán trên thị trường nội địa với chi phí.
Hiệp định quy định những trường hợp cụ thể mà việc tiêu thụ hàng hoá ở thị trường nội địa với giá thấp hơn chi phí của quá trình sản xuất sẽ không được coi là " thực hiện trong quá trình thương mại bình thường".