Chương I: Tổng quan về bán phá giá và pháp luật về chống bán phá giá. Chương này phân tích các khái niệm chung, đặc điểm, phân loại các loại bán phá giá; lịch sử hình thành và thực tiễn áp dụng luật về chống bán phá giá trên thế giới và Việt Nam. Chương II: Các quy định pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế. Chương này phân tích các quy định cụ thể về bán phá giá và chống bán phá giá, trong đó phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam có đối chiếu với quy định của WTO và của một số nước trên thế giới.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi và hoàn thiện pháp luật về chống bán phá giá đối với Việt Nam. Chương này phân tích thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam và việc áp dụng thuế chống bán phá giá của Việt Nam đối với hàng hoá nhập khẩu. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng luật về chống bán phá giá đối với Việt Nam. Phần kết luận.
Phần này nêu rõ tổng kết tóm tắt các nội dung đã nêu trong luận văn, đồng thời nêu bật những đóng góp và hạn chế của bài viết. Ngoài các phần đã nêu ở trên, luận năn này còn có phần Danh mục tài liệu tham khảo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ 1. Những khái niệm chung về bán phá giá và thuế chống bán phá giá 1.
Các định nghĩa về bán phá giá Để có thể phân tích các quy định về bán phá giá, trước tiên cần phải tìm hiểu bán phá giá là gì. Dưới đây là một vài cách hiểu về bán phá giá. Quan điểm thứ nhất cho rằng “bán phá giá được hiểu đơn giản là bán hàng ra nước ngoài với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nội địa” (Black's Law dictionary) [75, tr. Theo cách hiểu này, muốn xác định được hành vi bán phá giá trước hết phải xác định được giá nội địa hay còn gọi là giá bán hàng hoá tương tự tại nước xuất khẩu.
Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định giá hàng hoá nội địa không phải đơn giản và đôi khi không thể thực hiện vì hàng hóa xuất khẩu không được bán ở trong thị trường nội địa. Mặt khác, có những trường hợp việc so sánh giá xuất khẩu và giá bán tại thị trường nội địa đưa đến những kết luận không chính xác do bản thân giá nội địa cũng đã thấp hơn chi phí sản xuất (mặc dù cao hơn giá xuất khẩu). Quan điểm thứ hai coi “phá giá là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi phí sản xuất”. Hiện nay, quan niệm này ngày càng được nhiều người ủng hộ như- ng cũng gây không ít tranh cãi.
Những ý kiến ủng hộ cho rằng, định nghĩa như trên phản ánh rõ nét bản chất không lành mạnh của hành vi phá giá là những toan tính phi kinh tế nhằm mục đích gây cho đối thủ cạnh tranh những khó khăn hoặc trở ngại trong kinh doanh để chiếm đoạt thị trường của họ. Các cuộc tranh cãi xuất phát từ nhận thức truyền thống về phá giá là sự so sánh (phân biệt) giá quốc tế, chi phí sản xuất chỉ là yếu tố cấu thành chủ yếu của giá chứ chưa phải là giá bán của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hàng hoá. Mặt khác, với những truyền thống kinh doanh khác nhau thì quan niệm về các yếu tố cấu thành chi phí cố định hay biến phí của sản phẩm ở các quốc gia khác nhau cũng không giống nhau. Cho nên nếu xác định phá giá theo quan điểm này sẽ rất khó khăn cho quá trình áp dụng và thực sự không công bằng khi lấy quan niệm về cơ cấu chi phí trong tập quán kinh doanh của quốc gia này để kết luận về hành vi bán hàng của các doanh nghiệp ở quốc gia khác có cơ cấu chi phí khác nhau.
Quan điểm thứ ba kết hợp cả hai quan niệm đầu tiên bằng cách đưa ra cơ sở để xác định hành vi bán phá giá là giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hoá, sản phẩm bị nghi là phá giá. Với cách hiểu đó, quan niệm này đã phản ánh hình thức phân biệt về giá và bản chất phi kinh tế của phá giá trong thương mại quốc tế. Trên tinh thần đó, Hiệp định thực thi điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) định nghĩa một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [22, đ. Trên cơ sở pháp luật chung của WTO, Liên minh Châu Âu cũng đã ban hành luật chống bán phá giá theo quyết định số 384/96 ngày 22.1995 của Hội đồng EC, theo đó một sản phẩm được xem là bị bán phá giá nếu giá xuất khẩu vào khối cộng đồng ít hơn so với mức giá đối với sản phẩm tương tự theo tiến trình thương mại thông thường được thiết lập ở nước xuất khẩu [27, đ.
Theo quan điểm này, kết luận về hành vi bán phá giá không phải là kết quả của sự so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trên thị trường nước xuất khẩu hoặc với chi phí sản xuất của hàng hoá, mà được xác định dựa trên mối quan hệ giữa giá TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của sản phẩm xuất khẩu với giá trị thông thường của nó. Ưu điểm của quan điểm thứ ba là có sự uyển chuyển trong việc xác định giá trị thông thường với tư cách là mức giá chuẩn để so sánh giá. Cơ quan có trách nhiệm điều tra có thể chủ động xác định giá trị thông thường theo thứ tự ưu tiên là: - Giá bán tại thị trường xuất khẩu; - Giá lựa chọn từ nước thứ ba hoặc giá cấu thành. Từ đó, những khó khăn từ thực tiễn của quá trình kinh doanh trong việc xác định cơ cấu giá đã được tháo gỡ thông qua cơ chế định giá.
Đồng thời những khó khăn từ sự khập khễnh trong quan điểm và tập quán về cơ cấu chi phí của sản phẩm cũng sẽ được giải quyết khi xác định giá trị thông thường là giá bán hàng hoá tại thị trường xuất khẩu. Trong khoa học pháp lý có thể phân biệt được hành vi bán phá giá với việc hạ giá hoặc bán hàng hoá với giá rẻ là kết quả của việc giảm chi phí hay tăng năng suất. Hành vi bán hàng hoá rẻ hơn giá hàng hoá, sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu là kết quả của quá trình giảm chi phí sản xuất đã đem lại lợi ích cho sự phát triển kinh tế và thặng dư xã hội, thúc đẩy quá trình cạnh tranh lành mạnh trên thị trường tự do. Vì vậy, pháp luật coi là hành vi cạnh tranh lành mạnh, cần khuyến khích.
Phá giá là hành vi đi ngược lại các nguyên lý lành mạnh của thị trường tự do vì đã xâm hại nguyên tắc công bằng trong đối xử về giá hoặc giành giật thị trường một cách bất chính. Nghiên cứu về hành vi bán phá giá trong quan hệ thương mại quốc tế, nếu nhìn nhận dưới góc độ quyền lợi của người tiêu dùng trong ngắn hạn thì hành vi bán phá giá đem lại lợi ích cho người tiêu dùng do giá bán rẻ. Sự chênh lệch giữa giá bán của những nhà sản xuất nội địa và giá bán của hàng nhập khẩu là thặng dư của người tiêu dùng. Đồng thời, nó phản ánh mức độ đe dọa đối với thu nhập và quyền lợi của các nhà sản xuất nội địa.
Chính vì thế, để nhìn nhận rõ bản chất của TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phá giá, đôi khi khoa học pháp lý cần phải nghiên cứu từ góc độ ý nghĩa kinh tế của bán phá giá đối với sự phát triển của thị trường của nước nhập khẩu, từ đó xác định nhu cầu và mục đích của việc điều chỉnh pháp luật. Dấu hiệu cơ bản để xác định bán phá giá là sự chênh lệch về giá của sản phẩm giữa hai thị trường - thị trường nước xuất khẩu và thị trường nước nhập khẩu. Từ đó, kinh tế học chia phá giá thành hai trường hợp tiêu biểu để phân tích là: i. Giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường của nước xuất khẩu nhưng vẫn cao hơn chi phí sản xuất.
Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và cũng thấp hơn giá thị trường nội địa của nước xuất khẩu. * Trong trƣờng hợp thứ nhất, hành vi bán hàng ra nước ngoài với mức giá thấp hơn giá bán trong thị trường nội địa mặc dù cao hơn chi phí sản xuất vẫn có thể bị coi là hành vi phân biệt giá trong quan hệ thương mại quốc tế. Tuy nhiên xét về bản chất khó có thể quy kết cho hành vi này cái mác bán phá giá để áp dụng các biện pháp chống phá giá. Dưới góc độ kinh tế, hành vi bán hàng thấp hơn giá nội địa nhưng cao hơn chi phí sản xuất là một hiện tượng thông thường khi nhà sản xuất được hưởng lợi thế độc quyền trên thị trường nội địa do được bảo hộ bởi các rào cản thương mại tự nhiên hoặc phi tự nhiên hoặc do thị trường trong nước có quy mô nhỏ hơn so với thị trường xuất khẩu, nên có thể bán sản phẩm trong nước với giá cao.
Khi tham gia thị trường quốc tế, vì có cạnh tranh nên nhà sản xuất buộc phải bán hàng với giá thấp hơn giá nội địa để có thể tồn tại. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vấn đề đặt ra là hành vi nêu trên có là cạnh tranh không lành mạnh trong quan hệ thương mại quốc tế hay không? Nếu có thì bản chất nguy hại của nó thể hiện ở đâu, có nên áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp này hay không, khi bản thân hành vi thể hiện có sự phân biệt giá giữa hai thị trường mà nhà sản xuất tham gia? Có nhiều quan điểm khác nhau khi trả lời những câu hỏi trên.