Chương 1: Những điều kiện cho sự hình thành chính sách xã hội của Lê Thánh Tông Chương 2: Một số nội dung cơ bản trong chính sách xã hội của Lê Thánh Tông và ý nghĩa của nó. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1: NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH XÃ HỘI CỦA LÊ THÁNH TÔNG Dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông và các triều đại trước đó đều chưa sử dụng khái niệm “chính sách xã hội” nhưng các nội dung thể hiện chính sách xã hội lại là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách cai trị của mọi nhà nước phong kiến. Ở nước ta, khái niệm “chính sách xã hội” lần đầu tiên được sử dụng phổ biến trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về chính sách xã hội trong các công trình nghiên cứu khác nhau song trong đó có một quan niệm chung nhất đó là: “Chính sách xã hội là sự cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật những đường lối, chủ trương, những biện pháp để giải quyết các vấn đề xã hội dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo và quản lý, phù hợp với bản chất chế độ xã hội - chính trị, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích cao nhất là thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân về đời sống vật chất và văn hóa.
Chính sách xã hội là một động lực quan trọng của sản xuất xã hội, tiến bộ xã hội” [67, tr. Theo nghĩa hẹp: “Chính sách xã hội là chính sách của Nhà nước cho những ngành lao động xã hội được coi là đối tượng chính sách, nhóm cần được hỗ trợ của Nhà nước” [67, tr. Theo khái niệm này thì nội dung của chính sách xã hội gồm nhiều chính sách, cơ bản là chính sách với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội (công nhân, nông dân, trí thức…), chính sách an sinh xã hội (chống tệ nạn xã hội, tham nhũng…), chính sách đối với các lứa tuổi, giới (thanh, thiếu niên, phụ nữ, đồng bào dân tộc…). Từ việc nắm bắt các nội hàm chính trong các quan niệm trên chúng ta có thể nhận thấy rằng nội dung chính sách xã hội vào thời Lê Thánh Tông trị 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì chưa hoàn toàn thể hiện đầy đủ theo đúng cách hiểu hiện đại này nhưng cũng có điểm tương đồng, là những biểu hiện sớm, chưa hoàn chỉnh của chính sách xã hội trong lịch sử; bởi lẽ các chính sách đó có cơ sở khách quan và chủ quan của nó do điều kiện lịch sử lúc đó quy định.
Lê Thánh Tông đã xuất phát từ những tiền đề khách quan cùng với những nhân tố chủ quan của chính bản thân mình để xây dựng, đưa ra và thực thi những chính sách xã hội mà về cơ bản phù hợp với yêu cầu của xã hội Đại Việt nửa sau thế kỷ XV. Đó là yêu cầu tiếp tục ổn định, hoàn thiện, phát triển thể chế nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu làm lực lượng hiện thực hóa các đường lối cai trị Đức trị kết hợp với Pháp trị nhằm ổn định, phát triển quốc gia phong kiến Đại Việt. Trong giới hạn luận văn, tác giả nghiên cứu chính sách xã hội của Lê Thánh Tông với một số tầng lớp đặc biệt trong xã hội là quan lại, phụ nữ, người già, người neo đơn, trẻ mồ côi và đồng bào dân tộc thiểu số; biện pháp để ông thực hiện các chính sách xã hội đó. Điều kiện khách quan cho sự hình thành các chính sách xã hội của Lê Thánh Tông 1.
Điều kiện chính trị Vào nửa sau thế kỷ XIV, bộ máy nhà nước quân chủ quý tộc tôn quyền nhà Trần sau những chiến công vang dội trong sự nghiệp bình Nguyên và xây dựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh đã đi vào suy yếu. Nạn đói và các cuộc khởi nghĩa liên tiếp nổ ra làm nhà Trần lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Thiên tai dồn dập, nạn đói thường xuyên diễn ra vào các năm như 1362, 1370, 1375. khiến triều đình phải kêu gọi các nhà giàu trong lộ, phủ nộp thóc để cấp cho dân đói tránh tình trạng nổi loạn.
Tuy nhiên, các cuộc khởi nghĩa nông dân vẫn liên tiếp diễn ra, tiêu biểu như khởi nghĩa của Ngô Bệ (1344) với khẩu hiệu "cứu giúp dân nghèo", khởi nghĩa của Nguyễn Bổ (1379), khởi nghĩa của Nguyễn Thanh (1389). Mặc dù đã có một số biện pháp để 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com củng cố nhưng nhà Trần vẫn không thể khắc phục được tình trạng khủng hoảng trầm trọng này. Giữa lúc ấy, một viên quan ngoại thích của nhà Trần là Hồ Quý Ly đã nhanh chóng thâu tóm quyền lực, ép vua Trần nhường ngôi. Nhà Hồ thay nhà Trần (1400) cố gắng thực hiện một loạt các cải cách.
Những chính sách của nhà Hồ chưa phát huy được tác dụng thì giặc Minh đã xâm lược Đại Việt. Lợi dụng tình hình nước ta đang rối ren, giặc Minh đem quân sang xâm lược nước ta với quy mô lớn. Cha con Hồ Quý Ly đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống Minh nhưng do tương quan lực lượng không cân sức nên nhà Hồ nhanh chóng thất bại, Đại Việt rơi vào tay nhà Minh. Nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của nhà Minh, chúng chia nước ta thành 15 phủ, mỗi phủ chia làm nhiều huyện và châu.
Năm 1418, giữa núi rừng Lam Sơn - Thanh Hóa, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, quân dân ta đứng lên thực hiện khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh. Trải qua 10 năm “nằm gai nếm mật”, chịu nhiều tổn thất nặng nề; năm 1428, khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, đập tan ách thống trị suốt 20 năm của nhà Minh, đưa nước ta bước sang trang sử mới. Ý chí xâm lược của phong kiến Trung Quốc cơ bản đã bị đè bẹp. Nền an ninh quốc gia, phía Bắc được bảo đảm một cách vững chắc; phía Nam vào thời Lý, Trần, nước Chăm - pa thường hay đến quấy nhiễu biên giới, thì nay một mặt nước Đại Việt lại trở nên hùng cường, mặt khác thì nội bộ Chăm - pa đang ở thời kỳ khó khăn, suy vong cho nên không có mưu đồ quấy phá Đại Việt như trước.
Tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, nhà Lê sơ chính thức được thành lập. Trong hơn 5 năm trị vì đất nước (1428 - 1433), Lê Thái Tổ đã chủ trương và triển khai xây dựng một bộ máy nhà nước theo mô hình nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền thay thế cho chế độ nhà nước quân chủ quý tộc thời Trần; quyền lực được tập trung toàn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bộ vào triều đình, đứng đầu là nhà vua theo tinh thần “tôn quân quyền” của Nho giáo. Với tinh thần “tôn quân quyền” tất cả quyền lực bộ máy nhà nước được tập trung trong tay nhà vua, vua nắm vị trí độc tôn, tất cả mọi người đều phải phục tùng theo nhà vua. Lê Thái Tổ đã thực hiện một loạt các cải cách dựa trên sự quân sư của Nguyễn Trãi.
Ông ban hành một số văn bản pháp luật dưới dạng các chiếu, chỉ, dụ, lệnh và thi hành các chính sách nhằm củng cố, phát triển kinh tế cùng một số biện pháp an sinh xã hội, tạo ra sự ổn định và hứng khởi bước đầu cho đất nước sau hơn 20 năm bị giặc Minh đô hộ. Lê Thái Tổ đã thực hiện cải cách hành chính, chia đất nước thành 5 đạo (Đông, Tây, Nam, Bắc, Hải Tây). Đứng đầu mỗi đạo có chức hành khiển, bên cạnh có tổng quản chỉ huy các vệ quân trong đạo. Dưới đạo có các đơn vị hành chính: trấn, lộ, phủ, huyện, châu.
Đứng đầu trấn là trấn phủ sứ, tuyên úy sứ; ở lộ là an phủ sứ, tổng quản; ở phủ là tri phủ, đồng tri phủ; ở huyện là chuyển vận sứ; ở châu là phòng ngự sứ. Riêng miền núi có tri châu và đại tri châu. Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã. Năm 1428, Lê Lợi chia xã làm ba loại: đại xã, trung xã và tiểu xã, do các quan đứng đầu; số lượng xã quan quy định: đại xã có ba người, trung xã có hai người và tiểu xã có một người.
Hệ thống chính quyền phong kiến ngay từ thời Lê Lợi đã được tổ chức khá chặt chẽ, chi phối xuống tận cấp xã. Lê Thái Tổ cho xây dựng một bộ máy nhà nước mà tất cả quyền lực đều tập trung về triều đình trung ương. Đứng đầu là vua, rồi đến các chức tả, hữu tướng quốc, kiểm hiệu bình chương quân quốc trọng sự, tam thái, tam thiếu, tam tư dành riêng cho những tôn thất và đại công thần. Dưới đó là hai ngạch ban văn và ban võ.
Ban văn có các chức Đại hành khiển, Thượng thư các bộ (lúc này có hai bộ là Lại bộ và Lễ bộ) và các cơ quan chuyên trách như Nội mật viện, Ngũ hành viện, Bí thư giám, Hàn lâm viện… Ban võ có các chức Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản chỉ huy quân thường trực ở kinh thành và các vệ quân ở các đạo. Nhìn chung, bộ máy nhà 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước phong kiến thời Lê Thái Tổ còn sơ sài và vẫn phải dựa trên nền tảng quy chế tổ chức của các triều đại trước. Tuy nhiên, so với thời Lý, Trần bộ máy nhà nước thời Lê Thái Tổ đã là một bước tiến về mức độ tập trung quyền lực. Bộ máy nhà nước mà Lê Thái Tổ thiết lập cũng dần bộc lộ một số hạn chế như việc trọng đãi công thần mà hầu hết họ là những người ít học, giao cho họ nắm giữ các chức vụ quan trọng của đất nước đã làm nảy sinh những mâu thuẫn cung đình, tình trạng công thần lộng hành, tranh giành, vu khống và sát hại lẫn nhau trong nội bộ quý tộc, nguy cơ cát cứ đang dần diễn ra.
Sử cũ đã ghi về Lê Thái Tổ: “Khi lên ngôi vua đã ấn định luật lệ, chế tác lễ nhạc, mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học có thể nói là có mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp [16, tr. Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, Lê Thái Tông lên ngôi (1433 - 1442). Lê Thái Tông lên ngôi lúc 11 tuổi nên mọi việc đều do Đại tư đồ Lê Sát phụ chính cùng với Tư khấu đô tổng quản Lê Ngân chuyên quyền nắm giữ.