phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm hai chương: - Bước đầu thực hiện đổi mới đường lối, chính sách về tôn giáo ở nước ta giai đoạn 1990 – 2003. - Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đổi mới đường lối, chính sách tôn giáo trong giai đoạn 2004 - 2007 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 BƢỚC ĐẦU THỰC HIỆN ĐỔI MỚI ĐƢỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH VỀ TÔN GIÁO Ở NƢỚC TA GIAI ĐOẠN 1990 - 2003 1. Tình hình tôn giáo ở nƣớc ta từ sau năm 1975 đến trƣớc năm 1990 và những đặc điểm nhận thức, chính sách về vấn đề tôn giáo trƣớc đổi mới 1. Tác động từ thực tiễn: Tình hình tôn giáo ở nước ta từ sau năm 1975 đến trước năm 1990 Sau năm 1975, tình hình các tôn giáo vẫn hết sức phức tạp và có nhiều biến động sâu sắc về nội bộ.
Một bộ phận chức sắc, chức việc các tôn giáo tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, tin tưởng ở chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Bộ phận có lợi ích gắn liền với Mỹ - Ngụy thì có thái độ thù hằn với cách mạng, tiếp tục chống phá cách mạng. Tình hình Phật giáo Việt Nam sau năm 1975 có nhiều biến động, có những chức sắc Phật giáo di tản ra nước ngoài còn đa số tiếp tục hoạt động bình thường, tiếp tục thực hiện phong trào chấn hưng Phật giáo trong điều kiện đất nước hoàn toàn thống nhất. Trước hết, đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho giới Phật giáo thực hiện Phật sự lớn đã đặt ra từ lâu là việc thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo trong một tổ chức chung.
Tháng 2 năm 1980, Ban vận động Phật giáo thống nhất được thành lập gồm 33 vị tăng ni, cư sĩ đại diện cho các hệ phái Phật giáo trong cả nước. Tháng 11 năm 1981, Đại hội đại biểu thống nhất Phật giáo đã tổ chức tại Hà Nội với sự tham gia của 165 đại biểu tăng ni, cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái trong cả nước, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam, Ban liên lạc Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo hội Tăng già nguyên thuỷ Việt Nam, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội tăng già khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai giáo quán tông, Hội Phật học Việt Nam. Đại hội nhất trí lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Hiến chương và đường hướng hoạt động “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”. Thống nhất là sự kiện hết sức quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, không chỉ đáp ứng nguyện vọng tha thiết của tăng ni, phật tử trong cả nước mà còn tạo điều kiện cho giới Phật giáo Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống gắn bó với dân tộc để hộ trì, hoằng dương Phật pháp, phục vụ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần đem lại hoà bình, an lạc cho thế giới.
Báo cáo của Đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam đã khẳng định ý nghĩa to lớn này: “Đây là lần đầu tiên sau một trăm năm bị nô lệ hoá bởi phong kiến thực dân và đế quốc, Phật giáo Việt Nam chúng ta nay được nêu cao ngọn cờ độc lập và tự do trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một thời vàng son cho đạo Phật Việt Nam mà chúng ta chỉ tìm thấy trong thời đại nhà Trần với Trúc Lâm Tam Tổ. Nay thời đại vàng son đó đã đến và đang nằm trong tay chư vị đại biểu của chín tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam. Từ nay chúng ta không còn phân biệt Phật tử miền Nam, Phật tử miền Trung, Phật tử miền Bắc. Chúng ta chỉ gọi bằng một danh từ quý báu nhất, thiêng liêng nhất: chúng ta là Phật tử Việt Nam” [dẫn theo 21, tr.Tuy nhiên, dù phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội” vẫn giữ vị trí chủ đạo trong Giáo hội Phật giáo giai đoạn này nhưng những hoạt động chống đối Nhà nước của lực lượng cánh hữu trong và ngoài nước vẫn ngày càng tăng.
Bên trong các tổ chức cũ còn đọng lại một số người hậm hực vì đường hướng hoạt động nói trên của Giáo hội, đã tìm cách nói xấu Giáo hội, gây rối trật tự, nhưng không gây được ảnh hưởng gì đáng kể. Một bộ phận tăng ni bỏ ra nước ngoài trước và sau năm 1975, nhen nhóm thành một tổ chức “hải ngoại”, bên cạnh cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chủ yếu là hoạt động quyên cúng, đóng góp xây chùa và lẻ tẻ có người lên tiếng đòi “nhân quyền” cho người trong nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh Phật giáo, tình hình Công giáo sau 1975 cũng có nhiều biến động. Năm 1980, Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập, gồm tất cả các giám mục tại các giáo phận Công giáo ở Việt Nam.
Hội đồng Giám mục có nhiệm vụ: cổ vũ tính liên đới để phát huy các thiện tích mà Giáo hội dâng hiến cho Chúa bằng các hình thức tông đồ và các phương pháp thích hợp với hoàn cảnh của thời đại, trong tinh thần gắn bó với dân tộc và đất nước. Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 đã xác định đường hướng hoạt động của Giáo hội Công giáo Việt Nam là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc, vì hạnh phúc đồng bào”. Trước sự kiện này đã có nhiều cuộc đi lại thăm viếng của các đoàn giám mục, linh mục miền Bắc vào thăm Thành phố Hồ Chí Minh và phái đoàn linh mục Thành phố Hồ Chí Minh ra thăm Hà Nội, thúc đẩy quan hệ tốt đẹp của Công giáo cả nước. Tuy nhiên, sau năm 1975 vẫn còn một bộ phận giáo sĩ có tư tưởng chống cộng cực đoan gây ra những vụ bạo loạn chống chính quyền như vụ linh mục chính xứ Nguyễn Quang Minh và một số phần tử chống đối đã công khai nổ súng chống lại chính quyền vào ngày 12 và 13 tháng 2 năm 1976 tại nhà thờ Vinh Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, còn có một số lượng đáng kể giáo sĩ và tín đồ bỏ ra nước ngoài trong tâm trạng u uất. Khác với một số người ra đi để làm ăn, học hành, một số người trong nhóm nói trên tiếp tục ấp ủ “tinh thần chống cộng” lỗi thời, cố gắng nhen nhóm hội đoàn này nọ, chạy theo ngọn cờ “phục thù” của những kẻ làm tay sai cho đế quốc muốn tiếp tục quấy phá an ninh đất nước. Đầu năm 1975, miền Nam có 28 tổ chức Tin Lành khác nhau với tổng số tín đồ là khoảng 250.000, 800 giảng sư và mục sư truyền giáo, khoảng 500 nhà thờ. Ngoài Tổng hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam), phía Nam còn có nhiều hệ phái Tin Lành khác như: Hội Truyền giảng Phúc Âm, Hội thánh Chúa Giêsu, Nam Việt Hoa kiều Cơ-đốc Giáo hội, Cơ đốc Truyền giáo (do giáo sĩ Tin Lành Mỹ bị kỷ luật, quay lại lôi kéo một số giáo sĩ Việt Nam tách ra).
Ngay sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ, các giáo sĩ Tin Lành người nước ngoài bỏ chạy, kéo theo một số đông giáo sĩ người Việt; một số chức sắc và tín đồ trước kia đã là sĩ quan ngụy, nay lại tham gia tổ chức FULRO vũ trang chống chính quyền gây TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho Đảng và Nhà nước ta không ít khó khăn; phạm vi và mức độ hoạt động của Tin Lành giảm sút hẳn, thậm chí nhiều nơi như liệt hẳn, như chưa từng tồn tại. Mấy năm cuối thập kỷ 80, người ta lại thấy một số giáo sĩ Tin Lành quay trở về phục hồi lễ bái cầu nguyện, thu nạp thêm hội viên mới, xây dựng thêm nhiều cơ sở mới ở các vùng sâu, vùng xa. Đến đầu năm 1975, đạo Cao Đài vẫn trong tình trạng chia rẽ về tổ chức và phân hoá về chính trị. Số người đứng đầu các hệ phái nặng về cơ hội chủ nghĩa và vọng ngoại, chí ít cũng hoang mang, dao động.
Trong khi đó, đại đa số tín đồ và các chức sắc hệ phái Minh Chơn lý, Tiên Thiên, Chiếu Minh, Bạch Y. có nhiều đóng góp với dân tộc trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đầu năm 1975, Cao Đài vẫn chia ra hơn 20 hệ phái với tổng số tín đồ tự khai là 2.000 người, chủ yếu ở Tây Ninh và các tỉnh Đông Nam Bộ, lẻ tẻ một ít ở Sóc Trăng, Cà Mau, Rạch Giá. nhưng sinh hoạt đạo rời rạc.
Sau ngày giải phóng, một số phần tử phản động cực đoan vẫn lao đầu vào tổ chức, nhen nhóm các hoạt động quấy rối, xúi giục phá hoại khối đoàn kết dân tộc. Đầu thập kỷ 80, nhiều hệ phái Cao Đài được chấn chỉnh, các tổ chức chính trị, vũ trang phản động của Cao Đài chính thức giải thể và sinh hoạt tôn giáo được khôi phục, ổn định về chính trị - xã hội. Về phía Phật giáo Hoà Hảo, đầu năm 1975, do mâu thuẫn quyền lợi, có tới bốn Ban Trị sự trung ương tranh chấp nhau ảnh hưởng trước quần chúng và Mỹ - ngụy với khẩu hiệu “chống Cộng, cứu nước, giữ Đạo, thờ Thầy”. Đầu tháng 5 năm 1975, đại bộ phận tan rã, trốn ra nước ngoài, một số còn lại “tử thủ” cho đến ngày 5 tháng 5 mới đầu hàng hoặc bị bắt.
Do những hoạt động dính líu đến chính trị, nhất là những hoạt động chống phá chính quyền cách mạng nên ngày 19 tháng 6 năm 1975, bà Huỳnh Thị Kim Biên (em gái giáo chủ Huỳnh Phú Sổ) ra thông báo giải tán các Ban Trị sự các cấp của Phật giáo Hoà Hảo. Đạo Hoà Hảo trở lại là một tôn giáo khuyến thiện, chăm lo đoàn kết và an ninh nông thôn miền Tây Nam Bộ. Như vậy, tình hình tôn giáo nước ta sau năm 1975 có nhiều thuận lợi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhưng cũng không ít khó khăn. Đó là có một bộ phận bỏ ra nước ngoài hoặc ở lại trong nước nhen nhóm tổ chức gây rối trật tự, chống phá chính quyền làm cho tình hình trở nên vô cùng phức tạp, gây cho Đảng và Nhà nước ta không ít khó khăn.
Chính điều này đã tác động không nhỏ đến nhận thức, đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, dẫn đến tâm lý nôn nóng, muốn xoá bỏ nhanh tôn giáo bằng các biện pháp hành chính và các chính sách có phần thít chặt thậm chí có khi vi phạm cả chính sách tự do tôn giáo.