Chương 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách tiếp cận vốn Chương 2. Chính sách tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Hàn Quốc Chương 3. Chính sách tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 5 CHƢƠNG I.
TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN 1.1 Tổng quan chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) 1.1 Khái niệm SMEs Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) là một bộ phận cấu thành không thể thiếu đƣợc của nền kinh tế. Việc tìm hiểu khái niệm về loại hình doanh nghiệp này vốn tự thân nó đã rất cần thiết, và càng trở nên quan trọng hơn do có những điểm không giống nhau về SMEs giữa các nƣớc. Khác nhau chính là mỗi nƣớc lại có những tiêu chuẩn, quy định riêng để xếp loại, đánh giá loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới có thống nhất một số điểm chung nhƣ sau: “SME là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn , lao động, doanh thu, giá trị giá tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia” Tại Việt Nam, hiện nay chƣa thấy có điều luật nào quy định thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ rõ ràng và cụ thể, chỉ thấy trong thông tƣ số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc nhận dạng nhƣ sau: “Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc dưới toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng)” 1.2 Tiêu chuẩn về SMEs Khi nghiên cứu về SMEs, vấn đề quan trọng đặt ra là có những tiêu chuẩn nào để xác định một doanh nghiệp là SME, bởi vì chỉ khi nắm rõ đƣợc các tiêu chuẩn của từng nƣớc thì mới có thể hiểu và phân tích kết quả hoạt động của các SMEs từ đó đánh giá tình hình, chất lƣợng hoạch định và các chính sách thực hiện đối với SMEs.
Các tiêu chuẩn xác định SMEs Nhìn chung trên thế giới căn cứ để phân loại một doanh nghiệp là SME dựa trên những tiêu chí sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 6 - Tổng vốn ( hoặc tổng giá trị tài sản) - Tổng số lƣợng lao động - Doanh thu - Lợi nhuân - Giá trị gia tăng Tiêu thức về tổng vốn và lao động phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào, còn tiêu thức về doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu ra. Tùy thuộc vào điều kiện, trình độ và định hƣớng phát triển cụ thể mà mỗi quốc gia sẽ lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều tiêu chí với nhau để phân loại doanh nghiêp. Việc sử dụng các tiêu thức này trên thế giới có một số đặc điểm sau: - Những nƣớc khác nhau thì dùng những tiêu thức khác nhau. Trong đó khá nhiều nƣớc sử dụng 2 tiêu thức quy mô về vốn và lao động.
Tiêu thức đầu ra đƣợc sửa dụng ít hơn. - Số lƣợng tiêu thức đƣợc dùng để phân loại cũng không giống nhau, có nƣớc dùng một tiêu thức nhƣng cũng có nƣớc dùng hai hay nhiều tiêu thức phân loại. - Lƣợng hóa các tiêu thức này thành các giới hạn cụ thể ở các nƣớc khác nhau là khác nhau. Độ lớn cụ thể của mỗi tiêu thức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trình độ phát triển, quy mô vốn và lao động của từng quốc gia.
Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, doanh nghiệp nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 200 ngƣời và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn 20 đến 100 tỷ. Bộ luật cơ bản về SMEs của Hàn Quốc (1966) quy định về SMEs nhƣ sau “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một doanh nghiệp sử dụng dưới 300 nhân công hoặc có tổng số vốn góp không quá 8 tỷ won”. Cụ thể đối với từng ngành nghề: - Ngành sản xuất công nghiệp, SMEs là những doanh nghiệp có số lao động dƣới 300 ngƣời hoặc tổng số vốn không quá 8 tỷ won. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 7 - Ngành khai thác, xây dựng và vận tải là dƣới 300 lao động và tổng vốn không quá 3 tỷ won.
- Ngành ngƣ nghiệp, y tế và sản xuất phim là ít hơn 200 ngƣời và doanh thu hằng năm không quá 20 tỷ won. - Ngành nông, lâm nghiệp thì SMEs là doanh nghiệp có số nhân công dƣới 50 ngƣời và số doanh thu đạt đƣơc dƣới 5 tỷ won. - Ngành dịch vụ cụ thể nhƣ sau: dƣới 300 công nhân hoặc có doanh thu dƣới 25 tỷ won đối với ngành viễn thông, xử lý thông tin và truyền hình. dƣới 200 nhân công hoặc dƣới 20 tỷ won doanh thu đối với những dịch vụ liên quan đến khoa học- công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp, bán hàng door-to door… dƣới 300 công nhân hoặc dƣới 3 tỷ won doanh thu đối với dịch vụ bán lẻ và kinh doanh khách sạn.
dƣới 100 công nhân và doanh thu không quá 10 tỷ won đối với dịch vụ bán buôn Tuy nhiên cũng có một số trƣờng hợp ngoại lệ, một số ngành thì các SMEs có thể có số lao động lên tới 1000 ngƣời. - Ngành sản xuất linh kiện điện tử, ô tô : số nhân công có thể lên tới 1000 ngƣời - Ngành khai khoáng, may, sản xuất săm lốp, đúc, sản xuất xe đạp, kính đeo, đồ chơi : tới 700 ngƣời - Ngành đồ hộp, dệt nhựa, in, cao su, thủy tinh, bóng đèn, đồng hồ đeo tay, nhạc cụ : số lao động có thể lên tới 500 ngƣời. Theo Liên minh châu Âu thì SME là doanh nghiệp có dƣới 250 lao động, doanh số không quá 40.000 ECU hoặc tổng số vốn hằng năm không quá 27triệu ECU, có cổ phần không quá 25% ở một xí nghiệp lớn. Còn ở Việt Nam, theo Nghị đinh 6/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 8 “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”.
Cụ thể: Quy mô Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực nhỏ Tổng Tổng nguồn Số lao Số lao động Số lao động nguồn vốn vốn động Từ trên 10 Từ trên 20 từ trên 200 Nông, lâm 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến nghiệp, thủy sản xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời Từ trên 10 Từ trên 20 từ trên 200 Công nghiệp và 10 ngƣời trở 20 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến xây dựng xuống trở xuống 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời Từ trên 10 Từ trên 10 từ trên 50 Thƣơng mại và 10 ngƣời trở 10 tỷ đồng ngƣời đến tỷ đồng đến ngƣời đến dịch vụ xuống trở xuống 50 ngƣời 50 tỷ đồng 100 ngƣời Ngoài những tiêu chí mang tính định lƣợng kể trên, một số quốc gia còn sử dụng nhóm yếu tố định tính nhƣ trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý chƣa cao… Lấy ví dụ nhƣ ở Mỹ, bên cạnh tiêu chí về số lao động thƣờng xuyên, mức độ độc lập trong kinh doanh của doanh nghiệp đối với các tập đoàn lớn cũng đƣợc quan tâm.Chỉ những doanh nghiệp độc lập nhỏ và vừa mới đƣợc coi là SMEs, còn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nhƣng là thành viên của tập đoàn lớn thì không đƣợc xếp vào loại này và sẽ không đƣợc hƣởng những ƣu đãi của nhà nƣớc dành cho loại này. Các yếu tố tác động đến việc xác định tiêu chuẩn phân loại SMEs - Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nƣớc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 9 Thƣờng những nƣớc có trình độ phát triển kinh tế cao thì sẽ có giới hạn về quy mô của các tiêu chuẩn lớn hơn so với các nƣớc có trình độ phát triển thấp hơn. Điều này có nghĩa là mặc dù cùng sử dụng tiêu thức phân loại là số lao động hay tổng nguồn vốn nhƣng ở nƣớc có trình độ phát triển cao, giới hạn cụ thể của các tiêu thức này thƣờng lại cao hơn so với ở các nƣớc phát triển thấp hơn. Ví dụ nhƣ ở Mỹ, Australia và Canada, SMEs là các doanh nghiệp có số lao động dƣới 500 ngƣời.
Trong khi đó ở Philipines và Indonesia, các SMEs chỉ có không quá 200 ngƣời, nếu số lao động lớn hơn mức này doanh nghiệp sẽ đƣợc coi là doanh nghiệp lớn. Hay ở Nhật Bản doanh nghiệp sản xuất có vốn dƣới 1 triệu USD và số lao động dƣới 300 ngƣời đƣợc coi là SME, còn ở các nƣớc chậm phát triển nhƣ Việt Nam hay Lào thì đó lại là doanh nghiệp lớn. - Giai đoạn phát triển của nền kinh tế Các tiêu chí phân loại này còn đƣợc thay đổi theo thời gian sao cho phù hợp với sự phát triển của từng thời kỳ ở mỗi nƣớc. Khi nền kinh tế tăng trƣởng phát triển, quy mô của doanh nghiệp đƣợc mở rộng thì giới hạn tiêu chuẩn sẽ đƣợc điều chỉnh lại.
Hoặc khi nền kinh tế suy thoái, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì các tiêu chuẩn để phân loại cũng sẽ thay đổi tỷ lệ với tốc độ tăng trƣởng quy mô của doanh nghiệp. Điều này có thể thấy ở Đài Loan, trong vòng chƣa đầy 40 năm đã có nhiều lần thay đổi quy mô giới hạn và các tiêu thức xác định SMEs. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT 10 Bảng 1.