Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH SÁCH MỤC TIÊU LẠM PHÁT TRONG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA 1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA 1.1 Khái niệm, phân loại chính sách tiền tệ 1.1 Khái niệm chính sách tiền tệ Ở các nước khác nhau sẽ có quan điểm về CSTT khác nhau: Theo Ngân hàng Trung ương (NHTW) Canada: “CSTT là việc thực thi các biện pháp ảnh hưởng tới lượng cung tiền nhằm tác động tới lãi suất, điều kiện tín dụng và tỷ giá hối đoái của Canada. Mục tiêu cuối cùng của CSTT là tác động tới tổng sản phẩm quốc nội, việc làm, lạm phát và tăng trưởng nền kinh tế”[61]. Theo Cục dự trữ liên bang Mỹ: “CSTT là những quyết định của NHTW nhằm tác động đến tính thanh khoản, chi phí của tiền tệ và tín dụng nhằm thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu kinh tế quốc gia” [62]. Tại Việt Nam theo Luật số 46/2010/QH12 Luật NHNN: “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” [56].
Nói tóm lại CSTT là chính sách kinh tế vĩ mô mà trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát điều kiện tiền tệ của nền kinh tế nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, tạo nền tảng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và duy trì các mục tiêu xã hội hợp lý. NHTW có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến CSTT vì mọi hoạt động của NHTW và hệ thống ngân hàng đều ảnh hưởng đến hệ thống điều 8 kiện tiền tệ của nền kinh tế được thể hiện qua các chỉ tiêu như: khối lượng tiền, tín dụng, lãi suất, tỷ giá… Vì thế, xây dựng và điều hành CSTT là hoạt động trọng tâm của một NHTW.2 Phân loại chính sách tiền tệ - Căn cứ vào mức độ cung ứng tiền của NHTW: + CSTT mở rộng: Là CSTT có xu hướng mở rộng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Chính sách này thường được các nước sử dụng để chống suy thoái kinh tế hoặc chống thất nghiệp. + CSTT thắt chặt: Là CSTT có xu hướng giảm hoặc hạn chế bơm tiền vào lưu thông nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế.
Chính sách này thường được sử dụng để kiềm chế lạm phát. - Căn cứ vào mục tiêu chủ đạo của CSTT: + CSTT lấy tỷ giá hối đoái làm mục tiêu: Chính sách này thực thi dưới dạng gắn giá trị đồng nội tệ vào một ngoại tệ mạnh hay một rổ tiền tệ. Để theo đuổi mục tiêu tỷ giá, buộc NHTW phải giới hạn cung ứng nội tệ phù hợp với tỷ lệ cung ứng đồng tiền mà đồng nội tệ được neo vào. + CSTT lấy các đại lượng tiền tệ làm mục tiêu: các nước thực thi chính sách này sẽ xác định mức cung ứng tiền cụ thể sẽ được đưa vào nền kinh tế trong những khoảng thời gian nhất định.
Thông qua sự vận động của khối lượng tiền tệ cung ứng này ảnh hưởng đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế. + CSTT lấy lạm phát làm mục tiêu: các nước thực thi chính sách này thường công bố công khai mục tiêu lạm phát trong trung hạn hoặc dài hạn và cam kết thực thi mọi biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu này.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ 1.1 Mục tiêu cuối cùng 9 Mục tiêu CSTT hầu như thống nhất ở các nước. Sự điều chỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ trên cơ sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ổn định giá cả Ổn định giá cả là mục tiêu hàng đầu của CSTT và là mục tiêu dài hạn.
Giờ đây NHTW một số nước nhận thấy rõ rằng việc ổn định giá cả hoặc giá trị tiền tệ duy nhất thuộc về CSTT. Ổn định giá trị tiền tệ là ổn định sức mua của tiền tệ và ổn định giá cả. Các NHTW thường lượng hóa mục tiêu này bằng tỷ lệ tăng của chỉ số giá tiêu dùng xã hội. Việc công bố công khai chỉ tiêu này là cam kết của NHTW nhằm ổn định giá trị tiền tệ về mặt dài hạn.
Điều này có nghĩa là NHTW sẽ không tập trung điều chỉnh sự biến động giá cả về mặt ngắn hạn. Do những biện pháp về CSTT tác động đến nền kinh tế có tính chất trung và dài hạn, hơn nữa khó có thể dự đoán chính xác kết quả sẽ xảy ra vào thời điểm nào trong tương lai. Vì vậy, sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá cả trong ngắn hạn. Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô.
Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả. Đây là lợi ích có tầm quan trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của xã hội. Lạm phát cao hay thiểu phát là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát triển khả quan nhất, sự biến động liên tục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai lệch thông tin và do đó làm cho các quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy và không có hiệu quả. Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả làm dẫn đến sự phân phối lại không dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư.
Tăng trưởng kinh tế CSTT phải đảm bảo sự tăng lên của GDP thực tế. Đó là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ. Sự tăng trưởng phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng. Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hóa trong nước tăng lên.
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là mục tiêu của bất kì một chính sách kinh tế vĩ mô nào. Đó là nền tảng cho mọi sự ổn định vì một nền kinh tế tăng trưởng sẽ đảm bảo các chính sách xã hội được thỏa mãn, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế. Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ CSTT phải quan tâm đến khả năng tạo công ăn việc làm, giảm áp lực xã hội của thất nghiệp. Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý do: - Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội.
- Thất nghiệp gây nên tình trạng stress cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là mầm mống của các tệ nạn xã hội. - Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách và làm căng thẳng tình trạng ngân sách. Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0. Mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt được mục tiêu này.
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm việc làm thích hợp) và tỷ lệ thất nghiệp cơ cấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu về lao động và cung của lao động). 11 Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là mục tiêu của CSTT. Ngoài các mục tiêu trên, một số nước còn tập trung vào các mục tiêu cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm phát triển kinh tế đặc thù của họ. Chẳng hạn, Cục dự trữ liên bang Mỹ theo đuổi các mục tiêu khác như ổn định thị trường tài chính, ổn định lãi suất hoặc NHNN VN nhằm mục tiêu ổn định hệ thống các Tổ chức Tín dụng (TCTD) thay vì đảm bảo công ăn việc làm.
Mối quan hệ giữa các mục tiêu Về mặt dài hạn, đường cong Philip trở nên thẳng đứng, ngụ ý rằng sẽ không có mâu thuẫn giữa các mục tiêu của CSTT. Tuy nhiên, hình dạng đường cong Philip ngắn hạn chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa giá cả, tăng trưởng và tỷ lệ thất nghiệp. Trước hết, việc giảm tỷ lệ lạm phát đồng nghĩa với việc thực hiện một CSTT thắt chặt, lãi suất tăng lên làm giảm các nhân tố cấu thành tổng cầu và do đó đến tổng cầu của nền kinh tế, thất nghiệp vì thế có xu hướng tăng lên. Mặt khác, việc duy trì một tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn thường kéo theo CSTT mở rộng và sự tăng giá.
Thứ hai, mục tiêu công ăn việc làm mâu thuẫn với mục tiêu ổn định giá cả còn thể hiện thông qua sự phản ứng của NHTW đối với các cú sốc cung nhằm đảm bảo mức cầu tiền thực tế, kết quả là giá cả tăng lên. Thứ ba, mâu thuẫn này còn được thể hiện thông qua định hướng điều chỉnh tỷ giá; bằng việc hạ giá đồng bản tệ, các ngành công nghiệp xuất khẩu có khả năng mở rộng. Tỷ lệ thất nghiệp vì thế giảm thấp kèm theo sự tăng lên của mức giá chung. Như vậy, việc duy trì một mức tỷ giá ổn định và thích hợp sẽ làm giảm tỷ lệ công ăn việc làm, trong khi một mức tỷ giá cao hơn sẽ góp phần giảm tỷ lệ lạm phát.
Thất nghiệp và tăng trưởng không có sự mâu thuẫn cả trong ngắn hạn và trong dài hạn. Công ăn việc làm cao sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và 12 ngược lại. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự tăng trưởng và ổn định giá cả lại tương đối phức tạp; chúng mâu thuẫn nhau trong ngắn hạn nhưng lại bổ sung cho nhau trong dài hạn. Như vậy, trong ngắn hạn NHTW không thể đạt được tất cả các mục tiêu trên.