MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Năm 1995 là năm cột mốc diễn ra nhiều sự kiện đáng nhớ của Việt Nam, đánh dấu tiến trình mở cửa và hội nhập sâu rộng của Việt Nam với thế giới. Đó là sự kiện Việt Nam chính thức ra nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Từ đó, ASEAN luôn là đối tác quan trọng của Việt Nam và quan hệ thương mại hàng hóa song phương của Việt Nam - ASEAN ngày càng phát triển.
Hiện nay, ASEAN là thị trường chủ lực về xuất nhập khẩu của Việt Nam, Xuất khẩu đứng vị trí thứ 3 sau Hoa Kỳ, EU đạt giá trị 19 tỷ USD và chiếm 12% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới (Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Thống Kê năm 2014). Mặc dù Việt Nam và các nước ASEAN có nhiều lợi thế tương đồng và sản phẩm gần giống nhau nhưng nhờ các chương trình hợp tác kinh tế và các hiệp định cam kết của Việt Nam trong Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN mức tăng trưởng trung bình đạt 14% trong giai đoạn 2005-2009 và 13%/năm trong giai đoạn 2010-2014. Tuy nhiên, cán cân thương mại giữa Việt Nam và ASEAN luôn thâm hụt nghiêng về phía Việt Nam. Tuy giai đoạn gần đây mức thâm hụt có giảm từ giai đoạn 2005-2009 mức thâm hụt bình quân 6,57 tỷ USD/năm với tỷ lệ nhập siêu lên tới 85% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN, thì đến giai đoạn 2010-2014 mức thâm hụt dần cải thiện với tỷ lệ nhập siêu giảm xuống còn 31%, thâm hụt bình quân 4,88 tỷ USD/năm.
Đặc biệt, năm 2014, mức thâm hụt chỉ là 4,12 tỷ USD, bằng 22% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN. Đó là những điểm sáng của xuất khẩu Việt Nam vào ASEAN những năm qua, tuy vậy trong 9 thị trường của khối ASEAN thì hiện chỉ có 4 thị trường Việt Nam xuất siêu đạt 4,32 tỷ USD là Campuchia, Philippin, Inđônêxia, Myanmar. Các thị trường còn lại thâm hụt lên đến 8,44 tỷ USD. Nhìn lại chặng đường đã qua thấy quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước ASEAN chưa xứng tầm với tiềm năng của khu vực này.
Trong khi chú trọng Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 2 xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ và EU thì hình như Việt Nam đang bỏ rơi khu vực ASEAN, với tiềm năng rất lớn và số lượng dân lên đến hơn 600 triệu và GDP lên đến hơn 2000 tỷ USD. Đặc biệt, khi Việt Nam là một thành viên trong đó và đã có rất nhiều hiệp định được ký kết. Để tận dụng được những điều kiện thuận lợi đó, chúng ta cần xây dựng một lộ trình bền vững cho việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước trong khối. Việc xây dựng lộ trình bền vững cần có một chủ trương đứng đắn và rành mạch từ phía nhà nước.
Sự điều tiết của nhà nước cần có tầm nhìn rộng, các chính sách được nhà nước đưa ra sẽ quyết định đến xuất khẩu Việt Nam có đi đúng hướng không? Các chính sách vô cùng quan trọng đó gồm nhiều lĩnh vực cụ thể như: thuế quan, các quy chế xuất nhập khẩu, chính sách sản phẩm, thị trường,. mà việc áp dụng chính sách hợp lý sẽ giúp Việt Nam tiếp cận với thị trường các nước ASEAN một cách dễ dàng hơn. Nếu đi đúng hướng sẽ đem lại những làn gió mới cho xuất khẩu hàng hóa Việt Nam, còn không sẽ tụt hậu so với các nước trong ASEAN. Do vậy, chúng ta cần có một chính sách hợp lý và khôn khéo, mang tính toàn diện và thực tế, để có thể thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa cho các doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp có hướng đi rõ ràng dựa vào các cơ chế rành mạch và chắc chắn.
Xác định được sự cần thiết đó nên tôi quyết định chọn vấn đề: “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN” để nghiên cứu 2. Tổng quan công trình nghiên cứu Về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đã được nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đề cập tới, với các mức độ và nội dung khác nhau cả về lý luận và thực tiễn. Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này như: 1. Nguyễn Thanh Hà (2003), “Những biện pháp chủ yếu để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang các nước khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong giai đoạn đến 2010”, luận án tiến sĩ kinh tế.
Đây là một công trình nghiên cứu các chính sách ngoại thương và các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, luận văn đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn làm rõ chức năng, nhiệm vụ, đề xuất Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 3 quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung về giải pháp thúc đẩy xuất hàng hóa sang khu vực ASEAN. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế trước khi gia nhập WTO và hiệp định ATIGA chưa được ký kết, nên chưa thể bắt kịp với giai đoạn kinh tế hội nhập hiện nay. Nguyễn Văn Hoè (2002), “Tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam theo con đường thúc đẩy xuất khẩu: Những điều kiện cần thiết và những giải pháp”, luận văn tiến sĩ kinh tế, luận văn đề cập đến những biện pháp để thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường thế giới nói chung. Tuy nhiên chưa đề cập sâu đến chính sách vĩ mô của Chính phủ trong thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường các nước trên thế giới.
Mai Thế Cường (2006), “Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” luận văn tiến sĩ kinh tế. Luận án đã trình bày khái quát những cải cách về thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Chính phủ Việt Nam. Luận án đề cập đến chính sách thương mại quốc tế nói chung của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, còn đi nghiên cứu sâu về chính sách thúc đẩy sang một thị trường cụ thể trong bối cảnh hội nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới thì luận án chưa đề cập tới Ngoài ra còn có bài viết liên quan đến chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa như: Nguyễn Nam Anh (2014), “Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam khi tham gia Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và một số kiến nghị”. Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Ngọc Minh và Trần Quỳnh Anh (2014) “Đánh giá tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam đến năm 2025”, Kỷ yếu Hội thảo ‘Kinh tế Việt Nam đến 2025: cơ hội và thách thức’, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014.
Hội thảo khoa học quốc gia bàn về: “Chính sách thương mại nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam thời kỳ 2011-2020” do Bộ Công thương chủ trì tháng 6 năm 2011. Những nội dung chính của hội thảo xoay quanh những vấn đề về chính sách thương mại của Việt Nam nhằm hướng tới sự phát triển bền vững với 3 trụ cột chính: kinh tế, xã hội và môi trường; những đề tài này chưa đề cập sâu về chính sách thức đẩy xuất khẩu hàng hoá Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 4 Đề tài nghiên cứu khoa học năm 2010 của PGS.TS Phạm Tất Thắng – Viện Nghiên cứu Thương mại thuộc Bộ Công thương: “Mối quan hệ giữa tăng trưởng thương mại với tăng trưởng kinh tế”, Đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và sâu sắc về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt sang thị trường ASEAN, thị trường lân cận của Việt Nam để giúp gợi mở, đóng góp cho nhà nước và chính phủ việc hoạch định chính sách và giải pháp tháo gỡ vướng mắc về phía doanh nghiệp, phổ cập được các hiệp định đến các doanh nghiệp,… Vì vậy việc thực hiện nghiên cứu sẽ là hoàn toàn mới mẻ và sẽ không trùng lặp, đảm bảo tính độc lập, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với việc ra chính sách thúc đẩy xuất khẩu của nhà nước sang thị trường ASEAN, bên cạnh đó cũng sẽ giúp các bộ, ban ngành một phần nào đó trong việc triển khai. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Nghiên cứu làm rõ và đề xuất các chính sách để giúp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN đến năm 2020. Mục tiêu cụ thể: Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về Chính sách xuất khẩu hàng hóa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam hiện nay và sang thị trường các nước ASEAN nói riêng. - Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm về chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN trong giai đoạn 2015-2020. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu :Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN. Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi về nội dung và không gian: Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN.
Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 5 + Phạm vi về thời gian: Phân tích và đánh giá thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014 và đề xuất các chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN trong giai đoạn 2015-2020. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Với đề tài này tôi sẽ sử dụng các biện pháp nghiên cứu như hệ thống hóa và khái quát hóa, logic- lịch sử, phân tích, tổng hợp, chứng minh, diễn dịch, quy nạp, thống kê - so sánh: - Phương pháp hệ thống hóa: để kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu và các công trình khoa học đã công bố về những nội dung liên quan đến đề tài luận văn trên cơ sở đó sử dụng phương pháp khái quát hóa để rút ra những vấn đề lý luận và thực tiễn có tính logic của đề tài nghiên cứu, đồng thời dùng phương pháp tổng hợp để xây dựng luận cứ khoa học có tính độc lập và rút ra các kết luận khoa học của Luận văn.