PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Đặc biệt, Việt Nam độ mở kinh tế rất lớn, xuất khẩu được coi là động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế. Trong hoạt động xuất khẩu của nước ta hiện nay, thủy sản là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực, với vị trí thứ 4 trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chính sau dầu thô, dệt may và giày dép.
Với việc đòi hỏi vốn đầu tư không lớn, tận dụng được điều kiện tự nhiên xã hội đất nước, hoạt động xuất khẩu thuỷ sản đã có sự phát triển to lớn, hàng năm đem về cho đất nước một nguồn ngoại tệ lớn phục vụ tái đầu tư thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), xuất khẩu thủy sản của VN trong năm 2017 đạt trên 8,3 tỉ USD, tăng gần 19% so với năm 2016. Đây cũng là mức kỷ lục của ngành thủy sản từ trước tới nay. Tuy nhiên, những trở ngại như bối cảnh biến đổi khí hậu tiếp tục khó lường, cơ sở hạ tầng chưa đủ đáp ứng cho sản xuất thuỷ sản, sự liên kết thiếu chặt chẽ giữa các khâu từ khai thác, nuôi trồng, chế biến, thu mua, sản xuất, xuất khẩu thuỷ sản một mặt không tạo ra được sự ổn định trong quá trình cung ứng và tiêu thụ các yếu tố đầu vào cũng như sản phẩm đầu ra, mặt khác không tạo điều kiện để các doanh nghiệp thuỷ sản có thể áp dụng các công nghệ và mô hình quản lý hiện đại vào quá trình sản xuất để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm xuất khẩu, trong khi đó các doanh nghiệp thuỷ sản chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, do vậy năng lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế.
Bên cạnh đó, các quy chuẩn khắt khe của các quốc gia nhập khẩu (về trách nhiệm xã hội, môi trường, truy nguồn gốc đặc biệt là các quy định về khai thác bất hợp pháp IUU của EU, các điều kiện nuôi tương đồng trong đạo Luật Farrm Bill, dư lượng chất kháng sinh); nhu cầu tiêu dùng của thế giới giảm; giá thành sản xuất cao hơn so với các nước đối thủ; sự biến động tiền tệ;. đang là những thách thức không thể chủ quan cho việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam. 1 luan an Những năm gần đây, Chính phủ đã áp dụng nhiều chính sách, cũng như sử dụng nhiều công cụ tài chính tích cực khác nhau nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản theo hướng bền vững, hướng sản xuất lớn, có truy xuất nguồn gốc. Tuy nhiên, các chính sách tài chính thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản đang tồn tại nhiều hạn chế đòi hỏi cần thay đổi phù hợp với xu thế hội nhập thị trường, hội nhập quốc tế và hội nhập chuỗi giá trị toàn cầu như: hệ thống chính sách chưa phát triển kịp tiến trình hội nhập chung, các chính sách hỗ trợ tuy nhiều những chưa nhất quán từ Luật đầu tư, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu đến chính sách tín dụng, và các chính sách hỗ trợ ngắn hạn khác.
Bên cạnh đó, chi ngân sách nhà nước còn dàn trải lãng phí, điều kiện tiếp cận vốn tín dụng quá phức tạp, chính sách bảo hiểm chưa đạt hiệu quả. Vì vậy, thật cần thiết phải có một nghiên cứu tổng thể đánh giá các chính sách hiện tại, từ đó có được các chính sách tài chính khuyến khích hỗ trợ có hiệu quả để khai thác lợi thế và khắc phục hạn chế nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam. Nếu các chính sách này được nghiên cứu đầy đủ sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nhà tạo lập chính sách điều chỉnh hệ thống chính sách hiện hành, ban hành các chính sách mới phù hợp, giúp các doanh nghiệp thuỷ sản có thể phát huy được lợi thế, chủ động hội nhập, hướng đến xuất khẩu bền vững. Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu các chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản nước ta một cách bền vững mà không vi phạm các cam kết quốc tế là hoàn toàn cấp thiết.
Chính vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn: “Chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của luận án. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan đến đề tài luận án có ý nghĩa rất quan trọng, giúp cho nghiên cứu sinh hệ thống hoá được những vấn đề có tính lý luận chung về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ sản và chính sách tài chính nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp thuỷ 2 luan an sản. Bên cạnh đó, làm rõ được những vấn đề đã được nghiên cứu và những vấn đề còn bỏ ngỏ làm định hướng cho nghiên cứu của mình. Trong quá trình tiếp cận các công trình đó, nghiên cứu sinh tiến hành khái quát hoá các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo các nhóm sau: 2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp thuỷ sản Trong nhiều năm qua, hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản đã thu hút sự chú ý của không chỉ giới nghiên cứu mà còn có sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý chỉ đạo thực tiễn từ bộ ngành cho đến địa phương.
Đã có không ít đề tài trong nước và ngoài nước nghiên cứu có liên quan đến hoạt động này, tuy nhiên luận án chỉ nêu ra những nghiên cứu tiêu biểu nhất: Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Stephen Golub, Abir Varma (2014), “Fishing exports and Economic development of least developed countries: Bangladesh, Cambodia, Comoros, Sierra Leone and Uganda”[72] nghiên cứu một bức tranh toàn cảnh về hoạt động khai thác thuỷ sản phục vụ xuất khẩu ở một số quốc gia kém phát triển nhất thế giới thông qua các nghiên cứu điển hình ở năm nước kém phát triển. Ở các quốc gia này, ngành khai thác thuỷ sản có tiềm năng lớn ở cả ven biển và nội địa. Tuy nhiên, tình trạng khai thác quá mức đang trở thành mối đe doạ nghiêm trọng cho ngành công nghiệp thuỷ sản. Ngăn chặn việc khai thác quá mức bằng cách hạn chế tiếp cận nguồn tài nguyên là rất khó, và điều này đặt ra những thách thức không nhỏ đối với các quốc gia kém phát triển với năng lực quản lý và vốn còn nghèo nàn.
Bên cạnh đó, các nước này phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về các rào cản kỹ thuật của các nước phát triển như: nhu cầu, tiêu chuẩn chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Chính vì vậy, nhóm tác giả đưa ra các giải pháp cho các quốc gia này như: tăng cường quản lý Nhà nước, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ các nguồn vốn của chính phủ và tư nhân, quản lý và giám sát việc khai thác thuỷ sản nội địa, phát triển ngành khai thác và chế biến thuỷ sản xuất khẩu theo chuỗi giá trị. Như vậy, các tác giả không đề cập 3 luan an đến các chính sách tài chính của chính phủ nhằm hỗ trợ thúc đẩy cho hoạt động xuất khẩu thuỷ sản. Sustainable fisheries: International trade, Trade policy and Regulatory Issues nghiên cứu của UNCTAD (2016) đề xuất phát triển ngành thuỷ sản bền vững nhằm thúc đẩy việc bảo tồn, khai thác và xuất khẩu thuỷ sản bền vững để đảm bảo lợi ích của các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [80].
Bài nghiên cứu cung cấp thực trạng của thuỷ sản toàn cầu hiện nay: nhiều sáng kiến, khung pháp lý, quy chế quốc gia và quốc tế, các hiệp định khu vực và đa phương, các quy tắc ứng xử tự nguyện, các tiêu chuẩn và thể chế đã được phát triển trong 20 năm qua về xây dựng lại trữ lượng thuỷ sản, bảo tồn các sinh vật biển, ngăn chặn các hoạt động khai thác phá hoại, bảo tồn các loài có liên quan đến hệ sinh thái và đại dương. Các thoả thuận nghề cá cũng được ký kết để tạo thuận lợi cho việc thu hoạch bền vững và thương mại nghề cá. Nhận thức của người tiêu cũng đã được tăng lên. Mặc dù, những nỗ lực này đã đem lại rất nhiều những tích cực, tuy nhiên vẫn không thể đảo ngược tình trạng suy thoái của quần thể thuỷ sản toàn cầu và hệ sinh thái biển.
Như vậy, nghiên cứu này không đề xuất các giải pháp tài chính nhằm phát triển bền vững hoạt động xuất khẩu của các DN thuỷ sản. Tình hình nghiên cứu trong nước Nghiên cứu đặc điểm của ngành thuỷ sản, tác giả Nguyễn Kim Phúc (2011) trong luận án “Nâng cao chất lượng tăng trưởng ngành thuỷ sản Việt Nam” chỉ ra rằng: Đầu tiên, đối tượng sản xuất của ngành thuỷ sản là các sinh vật sống dưới nước, chịu tác động nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu, dòng chảy, địa hình thuỷ sản. Thứ hai, ngành thuỷ sản là ngành sản xuất vật chất có tính hỗn hợp, liên ngành cao bao gồm các hoạt động sản xuất cụ thể như khai thác, nuôi trồng, chế biến và dịch vụ thuỷ sản. Thứ ba, sản xuất thuỷ sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, rủi ro cao.
Cuối cùng là sản xuất thuỷ sản gắn chặt với thị trường vì vậy, độ tươi sống là chỉ tiêu số một về chất lượng sản phẩm thuỷ sản [35]. Về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản ở Việt nam nói chung, có nghiên cứu của tác giả Võ Thanh Thu và cộng sự (2002) “Những giải 4 luan an pháp về thị trường cho sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam” cho rằng những yếu tố ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất khẩu thuỷ sản đó là: hàng xuất khẩu chủ yếu dưới dạng cấp đông; hàng thuỷ sản chưa có thương hiệu xuất khẩu có uy tín riêng, hoạt động tiếp thị yếu; hàng hoá thuỷ sản chưa đa dạng; tính vượt trội trong cạnh tranh còn chưa rõ nét; nắm bắt thông tin về thị trường chưa kịp thời và bị động [47].