CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐỊA PHƯƠNG 1. Một số khái niệm và lý luận cơ sở 1. Tổng quan cơ sở quản lý nhà nước địa phương về phát triển kinh tế xã hội Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp.5] Quản lý nhà nước về kinh tế: Là quá trình tác động có ý thức và liên tục, phù hợp với quy luật của các cơ quan quản lý Nhà nước trên tầm vĩ mô đến các hoạt động kinh tế, các quá trình kinh tế nhằm tạo ra kết quả theo mục tiêu xác định trong điều kiện môi trường luôn biến động.9] Để thực hiện công tác quản lý, các cơ quan quản lý Nhà nước phải hoạch định các chiến lược, các quy hoạch phát triển kinh tế, tổ chức và phối hợp theo cấp và ngành trong quản lý, điều hành, kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động, các quá trình kinh tế đảm bảo phát triển đúng hướng, đạt mục tiêu. Chính sách quản lý: là tổng thể các quan điểm, tư tưởng phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu cụ thể đối với khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích đề ra.25] Chính sách quản lý nhà nước:Là hệ thống văn bản, chính sách do Nhà nước ban hành và được áp dụng trong phạm vi toàn quốc bao gồm các Quy định, Nghị định của Chính phủ; Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành, cơ quan ngang Bộ.26] Chính sách quản lý nhà nước địa phương:là hệ thống các văn bản, chính sách do địa phương ban hành và được áp dụng trong phạm vi từng địa phương 9 nhằm cụ thể hóa và thực thi các quy định chính sách của Chính phủ.
Chính sách QLNN (quản lý nhà nước) địa phương bao gồm các Quy định chính sách của Chính phủ được cụ thể hóa vào địa phương. Ngoài ra còn có các quy định mang tính chất địa phương theo sự phân cấp hoặc sự đồng ý, chấp thuận và thông qua của Chính phủ.30] Chính sách QLNN và chính sách QLNN địa phương có mối quan hệ tương tác phụ thuộc lẫn nhau. Mối quan hệ giữa cơ quan trung ương và địa phương được xác định như là sự khác nhau về cấp độ độc lập, cũng như là sự phụ thuộc lẫn nhau. Chính phủ có thể tác động đến chính sách pháp luật, và bằng cách này hay cách khác, có thể điều chỉnh hay định hướng hoạt động của cơ quan địa phương.
Các hội đồng địa phương, về phần mình, có những vị thế độc lập, có nguồn lực tài chính riêng và thẩm quyền được pháp luật quy định. Vì vật không chỉ các cơ quan địa phương phụ thuộc và trung ương (từ góc độ hỗ trợ chung, trợ cấp tài chính, điều chỉnh luật pháp.) mà chính phủ trung ương cũng phụ thuộc ở mức độ nhất định vào chính quyền địa phương khi thực thi các đường lối chính trị và kinh tế tại địa phương. Chính sách quản lý nhà nước trung ương mang tính chất tổng thể, dẫn dắt và làm kim chỉ nam cho việc hoạch định thực thi chính sách của từng địa phương. Dựa trên cơ sở chính sách quản lý nhà nước của trung ương và đặc thù của địa phương mà mỗi địa phương có thể đưa ra những chính sách quản lý nhà nước địa phương riêng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội từng địa phương.
Chính sách kinh tế - xã hội: Xét theo nghĩa tổng quát, chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm phát triển, những mục tiêu tổng quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước 10 Định nghĩa một cách đơn giản, chính sách kinh tế - xã hội là một hành động nào đó mà nhà nước lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện Hay chính sách kinh tế - xã hội là phương thức hành động được nhà nước tuyên bố và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại Hay chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, các chuẩn mực, các biện pháp và các thủ thuật mà nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm đạt đến một số mục tiêu theo định hướng, mục tiêu chung của đất nước. Quản lý nhà nước địa phương về phát triển kinh tế - xã hội QLNN về kinh tế bao gồm quản lý theo ngành kinh tế - xã hội và quản lý theo vùng lãnh thổ (vùng lãnh thổ ở đây được giới hạn trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc các địa phương trong cùng một tỉnh). Vùng là một bộ phận lãnh thổ quốc gia, nơi cư trú của cộng đồng dân cư và là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế - xã hội khác nhau. Để nghiên cứu sự phát triển KT-XH của một nước không thể không nghiên cứu sự phát triển đặc thù của mỗi vùng.
Ngày nay nghiên cứu vùng là một lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của tất cả các lĩnh vực tự nhiên và kinh tế - xã hội. Vùng là một đối tượng phát triển kinh tế tổng hợp gồm nhiều lĩnh vực, ngành nghề. Trong đó, có những ngành nghề mũi nhọn, phát huy ưu thế, thể hiện sắc thái riêng có của từng vùng; đồng thời vùng phải có cơ cấu kinh tế hợp lý để đáp ứng kịp thời, có hiệu quả hướng tới việc nâng cao phúc lợi của dân cư địa phương. Quản lý kinh tế trên một vùng là quản lý sự phát triển của từng ngành trong phạm vi địa phương, gắn sự phát triển đó với sự phát triển chung của từng ngành xuyên suốt cả nước.
Đồng thời đảm bảo sự phát triển hài hòa của tổng thể kinh tế vùng, bằng cách phối hợp sự phát triển cân đối, nhịp nhàng giữa các ngành, các lĩnh vực, giải quyết 11 việc làm, thu nhập và nâng cao phúc lợi dân cư, bảo vệ tài nguyên môi, trường, đảm bảo an toàn xã hội. Quản lý sự phát triển KT-XH vùng có hiệu quả đòi hỏi phải có chủ thể trực tiếp thực thi hoạt động quản lý. Thực tiễn ở nước ta, cũng như nhiều nước khác: các vùng hành chính – kinh tế cấp cấp tỉnh, thành phố (ở Việt Nam cũng như ở một số nước) là vùng kinh tế cấp chiến lược, đủ điều kiện thể hiện sự khác biệt. Ở các vùng hành chính- kinh tế cấp tỉnh lại có cấp chính quyền tương ứng trực tiếp là chủ thể thực thi các hoạt động quản lý, đặc biệt ở cấp này đã có một hệ thống tư liệu, số liệu, số liệu phục vụ thống kê cho công tác nghiên cứu, quản lý.
Những vùng hành chính – kinh tế cấp tỉnh như trên có tên là địa phương để phân biệt với các vùng được phân loại các tiêu thức khác. Phát triển địa phương là sự phát triển của tổng thể kinh tế, chính trị, xã hội (trong đó kinh tế địa phương là sự phát triển của tổng thể kinh tế, chính trị, xã hội trong đó. Kinh tế địa phương là tổng thể nhiều lĩnh vực, ngành nghề); ý tưởng phát triển chung của địa phương là tổng hợp các tiểu ý tưởng phát triển của từng lĩnh vực, ngành nghề, doanh nghiệp. phát triển địa phương phải gắn với nguồn nhân lực địa phương, đặc biệt là nguồn nhân lực và nguồn tài nguyên có lợi thế so sánh; phát triển địa phương gắn liền với việc phát huy các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa phương; phát triển địa phương gắn liền với việc phát huy tính năng động của địa phương (dân cư, khu vực, tư nhân, DNNN, chính quyền; các hiệp hội nghề nghiệp.); việc nghiên cứu phát triển địa phương phải tiếp cận từ nhiều hướng, nhiều cách.
Các biện pháp phát triển địa phương phải tiếp cận từ nhiều hướng, nhiều cách. Các biện pháp phát triển địa phương phải đa dạng, phong phú, nhưng phải có hệ thống đồng bộ. Có thể hiểu “phát triển kinh tế - xã hội địa phương” trên các nội dung sau: 12 - Phát triển kinh tế - xã hội địa phương trước hết bao hàm nội dung tăng trưởng kinh tế địa phương. Nghĩa là phát triển thể hiện ở mức tăng lượng của cải (tài sản) tính bằng hiện vật hay giá trị trong một thời kỳ nhất định.
Những chỉ tiêu quan trọng nhất để đo sự tăng trưởng có thể là: GDP, tốc độ tăng GDP; GDP/người, tốc độ tăng GDP/người. Nhịp tăng trưởng này phải được duy trì theo thơi gian; sự tăng trưởng phải dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động và hiệu quả cao, chứ không phải chỉ dựa trên cơ sở gia tăng các yếu tố đầu vào thuần túy. Thu nhập ở đây cũng được quan niệm rộng hơn; không phải chỉ là các yếu tố vật chất bình thường mà mở rộng hơn bao gồm cả nước sạch, sự tiện lợi trong dịch vụ y tế, giáo dục, ăn ở, đi lại, đặc biệt là có chỗ làm việc tốt, nghề nghiệp có trình độ cao. Các lợi ích phi vật chất cũng được đánh giá cao.
- Phát triển kinh tế - xã hội địa phương bao hàm sự thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội địa phương. Sự thay đổi của KT-XH phản ánh mức độ thay đổi phương thức sản xuất theo hướng ngày càng hiện đại và tính hiệu quả của nền kinh tế ấy. Cụ thể là những ngành nghề có hiệu quả; khu vực kinh tế có năng suất lao động cao; có giá trị gia tăng cao sẽ có tốc độ phát triển nhanh hơn các ngành khác. - Phát triển KT-XH địa phương nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư.
Cái đích của phát triển KT-XH là phục vụ con người. Mức sống chung của dân cư địa phương cần được quan tâm thưo hướng gắn với nội dung của cuộc chiến chống đói nghèo. Mức sống cũng được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là thu nhập cao hay thiếu đói mà còn bao hàm hàng loạt vấn đề như nước sạch, quyền lợi học tập, các vấn đề bảo vệ bà mẹ, trẻ em, chữa bệnh, nhà ở. 13 Cùng với mức sống còn vấn đề bình đẳng; vấn đề xã hội văn minh (con người sống tin cậy, hài hòa, xã hội an toàn.
Đặc biệt là gia tăng ngày vàng nhiều, càng hiệu quả của cộng đồng dân cư vào quá trình phát triển.