LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài luận án Quá trình quốc tế hóa tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn, tốc độ ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới: trong sản xuất, thương mại, đầu tư, tài chính, các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa. Thông qua các hoạt động trên các nước xích lại với nhau hơn, gắn bó với nhau nhiều hơn.Chính điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó mỗi quốc gia là bộ phận không tách rời và tùy thuộc vào nhau.Sự biến động xảy ra ở bất kỳ nước nào đó tất yếu sẽ dẫn tới sự tác động tới các quốc gia khác trên thế giới. Đặc điểm này đặt ra một yêu cầu tất yếu là mỗi quốc gia cần phải mở cửa ra thị trường thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế đối ngoại để có được một khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển.
Từ một nền kinh tế “tự cung, tự cấp”, đến nay nền kinh tế CHDCND Lào đã có những bước phát triển vượt bậc, trong năm năm trở lại đây, Lào là một trong số ít các quốc gia liên tục đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao(hơn 7% một năm). Trong năm 2013 với tốc độ phát triển kinh tế đạt được 7,9%/năm, trong đó lĩnh vực nông lâm 3,6%, công nghiệp 13,7%, dịch vụ 7,8%. Bên cạnh đó tổng sản phẩm quốc nội đầu người năm 2013 – 2014 đạt 1.628 USD/năm, cơ cấu kinh tế có sự phát triển vượt bậc, trong năm 2014 ngành nông – lâm chiếm 23,5% của GDP, ngành công nghiệp chiếm 33,2% của GDP, ngành dịch vụ chiếm 37,4% của GDP, và kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt3.669 USD và năm 2015 là 3. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu cũng đã có sự thay đổi đáng kể, trong đó các mặt hàng xuất khẩu truyền thống trước kia như lương thực, thực phẩm thô chưa qua chế biến, đồ hút, đồ uống, nguyên liệu thô và khoáng sản có sức cạnh tranh kém và ngày càng mất giá nay đã giảm dần tỷ trọng, tăng dần tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu đã qua chế biến, có hàm lượng khoa học công nghệ cao, sức cạnh tranh mạnh mẽ.
Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là Cà phê, hàng nông sản, điện, khoáng sản, sản phẩm gỗ, dệt may và mặt hàng khác. Để hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước có thể phát huy hết nội lực thì các công cụ chính sách của nhà nước là vô cùng cần thiết và đặc biệt là các chính sách hỗ trợ xuất khẩu, có thể thấy rằng mục tiêu các chính sách hỗ trợ và định hướng phát triển của nước CHDCND Lào ngày càng dần được hoàn thiện phù hợp với 2 sự phát triển của đất nước và với thông lệ quốc tế. Hiện nay, nhiều chính sách đưa ra từ khi đất nước đi vào đổi mới đã bộc lộ nhiều hạn chế chưa thực sự phù hợp với sự phát triển không ngừng của thế giới, và các chính sách đòi hỏi phải cần được bổ sung và điều chỉnh để thích hợp với xu hướng phát triển của thế giới. Trong khi kinh tế trong nước và thế giới luôn luôn biến động không ngừng, thì không thể duy trì mãi một chính sách, mỗi thời kì hay giai đoạn nhất định thì đất nước lại theo đuổi những mục tiêu khác nhau, mỗi mục tiêu yêu cầu có những chính sách phù hợp hơn.
Đặc biệt trong bối cảnh CHDCND Lào đã trở thành thành viên của WTO; nhận thức được vấn đề này, CHDCND Lào đã hình thành một hệ thống chính sách và chương trình hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa phù hợp với hoàn cảnh đất nước nhằm thúc đẩy xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, xây dựng hệ thống chính sách phù hợp, hiệu quả cao là công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và sự nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều tổ chức và nhiều người cùng tham gia với sự quan tâm hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước. Những khía cạnh này có ảnh hưởng nhiều tới sự phát triển kinh tế và xã hội, có ý nghĩa lớn với các hoạt động thực tiễn. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách nhà nước nhằm hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa ở nước CHDCND Lào là một vấn đề cấp bách hiện nay.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay, hoạt động xuất khẩu đã và đang là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia, từ các nước đang phát triển đến các nước phát triển. Có thể nói, đẩy mạnh xuất khẩu trở thành mục tiêu sống còn của tất cả các quốc gia. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, sự can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ xuất khẩu là nhu cầu tất yếu. Nếu không có sự hỗ trợ, định hướng và khuyến khích của nhà nước thì các doanh nghiệp, đặc biệt của các nước đang phát triển khó có thể thành công trên thị trường thế giới.
Nhưng chính sách hỗ trợ xuất khẩu của các quốc gia, một mặt vừa phải đáp ứng mục tiêu quốc gia trong việc định hướng thị trường và mặt hàng, vừa không được trái với các cam kết và thông lệ quốc tế. Đối với nước CHDCND Lào, là một nước đi sau mới gia nhập WTO, kinh nghiệm chưa nhiều nhưng lại có nhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, chính sách hỗ trợ xuất khẩu của chính phủ Lào càng trở nên khó khăn. Do đó, đề tài nghiên cứu luận án có ý nghĩa cấp bách vả về lý luận và thực tiễn Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Chính sách nhà nước hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa của nước CHDCND Lào” làm nghiên cứucho luận án tiến sỹ của mình. 3 2 Tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài 2.1 Các công trình trên thế giới Phát triển hoạt động xuất khẩu hàng hóa và những chính sách của nhà nước hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa đã được nhiều công trình trong nước và trên thế giới nghiên cứu liên quan đề cập tới các mức độ và nội dung khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn.
“The key issues of the improvement of export promotion policy at the macro- and micro levels “ của tác giả Karen Grigoryan (năm 2008 Armenian State University of Economics, Yerevan, Armenia). Đề tài nghiên cứu chính sách hỗ trợ xúc tiến hoạt động xuất khẩu hàng hóa ở cấp vĩ mô và vi mô. Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động xúc tiến thương mại của chính phủ ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ của hoạt động xuất khẩu. Tìm ra nguyên nhân.
Tuy nhiên nghiên cứu không tiếp tục đưa ra những kiến nghị về mặt giải pháp để hoàn thiện chính sách hỗ trợ xúc tiến hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Sách tham khảo về “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế“ (2003) của GS.TS Chu Văn Cấp (chủ biên), đã nghiên cứu khả năng cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu như gạo, chè, cà phê, thủy sản cho đến năm 1999 dựa trên các tiêu chí về chi phí sản xuất, giá xuất khẩu, chất lượng và uy tín sản phẩm, thị trường tiêu thụ v. Cuốn sách “ phát huy lợi thế so sánh để đẩy mạnh tăng trưởng của Việt Nam trong điều kiện hiện nay “ của PGS.TS Võ Văn Đức – nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2004. Phân tích lợi thế của Việt Nam và đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam.
Tác giả đã hệ thống hóa các lý thuyết về lợi thế so sánh, như lý thuyết lợi thế tuyệt đối, lý thuyết H-O và một số lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại, phân tích những lợi thế tuyệt đối của Việt Nam trong xuất khẩu. Kết quả của hoạt động xuất khẩu và giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. “Hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” luận án tiến sỹ của TS. Mai Thế Cường (2006); luận án đã trình bày khái quát những cải cách về thương mại trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Chính phủ Việt Nam.
Luận án đã đề cập đến chính sách thương mại quốc tế nói chung của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, còn đi nghiên cứu sâu về chính sách thúc đẩy sang một thị trường cụ thể trong bối cảnh hội nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới thì luận án chưa đề cập tới. Luận án tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Thúy Hồng (2014) “Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia vào 4 WTO”. Trong đó, đã nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về chính sách thức đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong điều kiện tham gia vào WTO, phân tích đúng và khách quan hiện trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU trong thời gian qua.
Từ đó, đề xuất một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường EU. Luận án tiến sĩ của TS. Lê Thanh Bình (2010) “Công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan, kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, Luận án làm rõ thực trạng quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Thái Lan, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào tiến trình công nghiệp hóa của Việt Nam. Luận án đã chỉ ra được mô hình công nghiệp hóa của Thái Lan từ một nước nông nghiệp phát triển theo hướng chuyên canh và hướng vào xuất khẩu và nhà nước luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 1998 “Cơ sở khoa học về chiến lược hỗ trợ xuất khẩu cho các hợp tác xã và các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam”,Tác giả Vũ Lưu. Đề tài đã khái quát thực trạng hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của các hợp tác xã và doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Cơ sở khoa học về chiến lược hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm thực hiện thành công chiến lược hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa.