Tổng quan nghiên cứu
Khoa học và công nghệ đóng vai trò là quốc sách hàng đầu, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong giai đoạn 2000 - 2015, Chính phủ Việt Nam đã duy trì mức đầu tư ngân sách cho hoạt động khoa học và công nghệ ở mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng mạnh so với mức 0,96% năm 1996 và 1,28% năm 1999. Đi cùng nguồn lực tài chính, 12 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia trọng điểm trong giai đoạn 2011 - 2015 đã được triển khai nhằm giải quyết các nhiệm vụ liên ngành, liên vùng có tính ứng dụng cao. Tuy nhiên, việc thiếu một mạng lưới chia sẻ dữ liệu liên thông đã dẫn đến nguy cơ lãng phí từ 40% đến 70% ngân sách nghiên cứu do hiện tượng trùng lặp đề tài, dự án khoa học trên phạm vi cả nước.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là giải quyết tình trạng thiếu hụt cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ tại cơ quan đầu mối quốc gia, nhằm phục vụ hiệu quả các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm rõ vai trò của thông tin khoa học công nghệ, phân tích thực trạng hoạt động mạng lưới tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia giai đoạn 2010 - 2015, từ đó đề xuất hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả thi.
Phạm vi nghiên cứu được xác định tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc nâng cao hiệu quả quản trị nguồn kinh phí 12 tỷ đồng bổ sung nguồn tin hàng năm, tối ưu hóa quy trình tra cứu và phúc đáp thông tin cho 1.015 nhiệm vụ khoa học, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng các công trình nghiên cứu trên toàn quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết hoạch định chính sách công của James E. Anderson và phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Giáo sư Vũ Cao Đàm. Theo đó, chính sách hỗ trợ phát triển được hiểu là hệ thống các giải pháp được thể chế hóa nhằm tác động vào các nhóm nguồn lực, định hướng hoạt động của hệ thống mạng lưới thông tin theo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đề tài áp dụng lý thuyết thông tin và chu trình công nghệ của Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (ESCAP) để phân tích đặc tính hai chiều của thông tin khoa học công nghệ: vừa là nguyên liệu đầu vào thiết yếu, vừa là sản phẩm đầu ra kết tinh của quá trình nghiên cứu và phát triển.
Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm nền tảng:
- Thông tin khoa học và công nghệ: Dữ liệu, dữ kiện, số liệu và tri thức hình thành từ các hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo quy định tại Nghị định 11/2014/NĐ-CP.
- Nguồn tin khoa học và công nghệ: Bao gồm nguồn tin nội sinh (báo cáo đề tài các cấp, luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu trong nước) và nguồn tin ngoại sinh (sách, tạp chí, cơ sở dữ liệu chuyên ngành nhập khẩu từ nước ngoài).
- Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ quốc gia: Tập hợp các cơ quan, tổ chức thông tin - thư viện liên kết thông qua hạ tầng mạng tiên tiến như VISTA và VinaREN dưới sự điều phối của cơ quan đầu mối quốc gia.
- Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia: Tập hợp các đề tài, dự án có tính liên ngành nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và dài hạn.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp với kế thừa dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chuyên môn. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 100% cán bộ quản lý, chuyên gia và chủ nhiệm nhiệm vụ tham gia các hội thảo chuyên đề do Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia tổ chức, cùng tập dữ liệu gồm 1.015 nhiệm vụ khoa học công nghệ được tra cứu thực tế tại Cục trong giai đoạn 2010 - 2015.
Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu có chủ đích là nhằm tiếp cận trực tiếp nhóm người dùng tin chuyên sâu đang trực tiếp thực hiện 12 chương trình cấp quốc gia. Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp và thống kê mô tả định lượng được lựa chọn nhằm đối chiếu giữa quy định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Khoa học và Công nghệ 2013, Nghị định 159/2004/NĐ-CP, Nghị định 11/2014/NĐ-CP, Thông tư 07/2014/TT-BKHCN, Thông tư 14/2014/TT-BKHCN) với các chỉ số thống kê thực tế về nguồn tài nguyên, người dùng tin và sản phẩm dịch vụ. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt trong 5 năm, từ năm 2010 đến hết năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về thực trạng mạng lưới thông tin khoa học công nghệ phục vụ các chương trình quốc gia:
Thứ nhất, nhận thức về vai trò của thông tin đạt mức tuyệt đối nhưng hành vi khai thác có sự phân hóa rõ rệt. 100% người dùng tin khẳng định thông tin khoa học công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu, trong đó gần 60% đánh giá rất quan trọng và 25,5% khẳng định có vai trò quyết định. Tuy nhiên, có tới 83% người dùng tin sử dụng các công cụ tìm kiếm mở trên Internet hàng ngày, trong khi chỉ có 4,3% người dùng tin khai thác tài liệu từ thư viện truyền thống mỗi ngày. Đánh giá về chất lượng, 43,6% người dùng tin nhận định công cụ tìm kiếm trên Internet đạt chất lượng tốt, trong khi tỷ lệ này đối với thư viện chỉ đạt 12,8%.
Thứ hai, nhu cầu cung cấp thông tin theo chuyên đề và tra cứu theo yêu cầu chiếm tỷ trọng vượt trội với khoảng 66,7% (tương đương 2/3) số người được khảo sát lựa chọn. Tính đến tháng 12/2015, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã tiếp nhận và thực hiện phúc đáp tra cứu trùng lặp cho 1.015 nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc các bộ, ngành và địa phương.
Thứ ba, nguồn tài nguyên thông tin ngoại sinh được đầu tư lớn với khoảng 80% kinh phí bổ sung hàng năm (khoảng 12 tỷ đồng/năm), tập trung vào các cơ sở dữ liệu quốc tế như ScienceDirect (trên 1.000 tên tạp chí), Springer eJournals và eBooks (1.300 tạp chí, 6.000 sách), ProQuest Central (13.000 tài liệu, 8.000 tạp chí toàn văn), Web of Science (10.000 tài liệu) và IEEE/IEL (149 tạp chí, 3.100 tiêu chuẩn).
Thứ tư, nguồn tin nội sinh được lưu trữ quy mô lớn nhưng mức độ khai thác chưa tối ưu. Cơ sở dữ liệu Tài liệu Khoa học và Công nghệ Việt Nam (STD) hiện có gần 150.000 biểu ghi (85.000 biểu ghi có toàn văn PDF, cập nhật thêm trên 11.000 biểu ghi mỗi năm); Cơ sở dữ liệu Kết quả Nghiên cứu (KQNC) lưu trữ hơn 13.000 mô tả thư mục từ 12.500 báo cáo nhiệm vụ các cấp (trong đó đề tài cấp nhà nước chiếm 46%, đề tài cấp bộ chiếm 43%). Liên hợp Thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử đã mở rộng từ 26 thành viên năm 2006 lên 50 thành viên năm 2012 và đạt khoảng 70 đơn vị thành viên vào năm 2015.
Thảo luận kết quả
Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ 83% người tìm tin qua Internet và 4,3% người dùng thư viện phản ánh xu thế chuyển dịch tất yếu sang môi trường số. Các nhà nghiên cứu có nhu cầu tiếp cận nhanh nhưng việc sử dụng Internet tự do tiềm ẩn nguy cơ sai lệch dữ liệu học thuật. Trong khi đó, việc 2/3 người dùng tin phụ thuộc vào dịch vụ tra cứu theo yêu cầu chứng minh vai trò cầu nối của cán bộ thông tin trong việc hỗ trợ hội đồng khoa học thẩm định tính mới, ngăn ngừa nguy cơ tổn thất từ 40% đến 70% ngân sách do trùng lặp nghiên cứu.
Về phương thức trình bày, tập dữ liệu khảo sát có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng kênh tìm tin hàng ngày (83% Internet so với 4,3% thư viện) và bảng ma trận đối chiếu nhu cầu thông tin của 12 chương trình quốc gia với khả năng đáp ứng của từng cơ sở dữ liệu chuyên ngành. So sánh với các mô hình thông tin tại các nền kinh tế phát triển theo khuyến nghị của UNESCO, mạng lưới thông tin tại Việt Nam vẫn còn thiếu cơ chế liên kết dữ liệu thời gian thực giữa cơ quan trung ương và địa phương, đòi hỏi Nhà nước phải hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và hạ tầng đồng bộ.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát huy tối đa hiệu quả phục vụ các chương trình quốc gia, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm:
Thứ nhất, hoàn thiện chính sách phát triển và số hóa nguồn tin khoa học và công nghệ nội sinh.
- Hành động: Thể chế hóa quy định bắt buộc đăng ký, giao nộp và số hóa 100% báo cáo kết quả nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước theo đúng Thông tư 14/2014/TT-BKHCN.
- Chỉ số mục tiêu: Nâng tổng số biểu ghi Cơ sở dữ liệu STD từ 150.000 lên 250.000 biểu ghi toàn văn, bổ sung từ 1.200 đến 1.500 báo cáo kết quả nghiên cứu mới mỗi năm.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2020.
- Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia phối hợp các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương.
Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ và mở rộng mạng lưới Liên hợp Thư viện Việt Nam.
- Hành động: Nâng cấp đường truyền mạng VinaREN và cổng thông tin VISTA, áp dụng công nghệ điện toán đám mây để chia sẻ tài nguyên thông tin dùng chung.
- Chỉ số mục tiêu: Mở rộng số lượng thành viên Liên hợp Thư viện từ 70 lên 120 đơn vị, tiết kiệm từ 20% đến 30% tổng kinh phí mua bản quyền cơ sở dữ liệu quốc tế.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2018.
- Chủ thể thực hiện: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia phối hợp các trường đại học và viện nghiên cứu.
Thứ ba, chuẩn hóa quy trình cung cấp dịch vụ thông tin giá trị gia tăng và tra cứu theo yêu cầu.
- Hành động: Xây dựng hệ thống phần mềm tự động rà soát trùng lặp đề tài và cung cấp các gói thông tin tổng quan, dự báo công nghệ chuyên sâu phục vụ 12 chương trình quốc gia.
- Chỉ số mục tiêu: Rút ngắn thời gian xử lý phúc đáp tra cứu xuống dưới 5 ngày làm việc, đảm bảo độ chính xác 100% cho hơn 1.000 nhiệm vụ khoa học mỗi năm.
- Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ năm 2016 và duy trì thường niên.
- Chủ thể thực hiện: Thư viện Khoa học và Công nghệ Quốc gia thuộc Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
Thứ tư, đổi mới chính sách tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ nguồn nhân lực thông tin.
- Hành động: Xây dựng định mức lao động khoa học, ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng phân tích, xử lý dữ liệu lớn.
- Chỉ số mục tiêu: 100% cán bộ thông tin được bồi dưỡng nghiệp vụ hiện đại, thu hút ít nhất 30 chuyên gia có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ về khoa học dữ liệu và quản trị thông tin.
- Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016 - 2020.
- Chủ thể thực hiện: Vụ Tổ chức cán bộ thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn cung cấp luận cứ khoa học, phương pháp luận và dữ liệu thực chứng hữu ích cho 4 nhóm đối tượng:
Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ, ngành liên quan.
- Lợi ích và tình huống sử dụng: Sử dụng kết quả nghiên cứu làm căn cứ hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 11/2014/NĐ-CP và Thông tư 07/2014/TT-BKHCN, xây dựng cơ chế phân bổ ngân sách 2% cho hoạt động thông tin khoa học công nghệ hợp lý và hiệu quả hơn.
Thứ hai, lãnh đạo các cơ quan thông tin, trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và thư viện trường đại học.
- Lợi ích và tình huống sử dụng: Tham khảo mô hình điều phối của Liên hợp Thư viện với quy mô 70 đơn vị thành viên để tối ưu hóa nguồn kinh phí 12 tỷ đồng mua cơ sở dữ liệu điện tử hàng năm, học hỏi kinh nghiệm xây dựng các cơ sở dữ liệu toàn văn nội sinh.
Thứ ba, ban chủ nhiệm và các nhà nghiên cứu thuộc 12 chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia.
- Lợi ích và tình huống sử dụng: Nắm bắt quy trình tra cứu tránh trùng lặp ý tưởng nghiên cứu, khai thác nguồn tài liệu quý gồm hơn 350.000 đầu sách và các cơ sở dữ liệu quốc tế như ScienceDirect, Web of Science, ProQuest Central để nâng cao chất lượng đề tài.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Thông tin - Thư viện.
- Lợi ích và tình huống sử dụng: Vận dụng khung phân tích chính sách và phương pháp khảo sát đánh giá nhu cầu người dùng tin làm tài liệu giảng dạy, học tập và phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ ngăn chặn hiện tượng trùng lặp đề tài bằng cách nào?
Mạng lưới thực hiện quy trình tra cứu bắt buộc theo Mẫu C0-KQTrC quy định tại Thông tư 07/2014/TT-BKHCN, đối chiếu nhiệm vụ đề xuất với hơn 13.000 báo cáo trong CSDL Kết quả Nghiên cứu và 150.000 tài liệu trong CSDL STD. Quy trình này giúp hội đồng khoa học thẩm định chính xác tính mới, loại bỏ nguy cơ lãng phí từ 40% đến 70% ngân sách nghiên cứu.
Nguồn tài nguyên thông tin khoa học công nghệ quốc tế tại Cục có quy mô ra sao?
Cục duy trì nguồn tài nguyên quốc tế đồ sộ với 80% kinh phí bổ sung hàng năm (khoảng 12 tỷ đồng/năm). Hệ thống bao gồm ScienceDirect với hơn 1.000 tạp chí, ProQuest Central với 13.000 đầu tài liệu, Springer với 1.300 tạp chí, Web of Science với 10.000 tài liệu và IEEE/IEL chứa 3.100 tiêu chuẩn kỹ thuật điện - điện tử.
Tại sao có 83% nhà khoa học tìm tin trên Internet nhưng chỉ 4,3% đến thư viện hàng ngày?
Hiện tượng này bắt nguồn từ sự tiện lợi và tốc độ tìm kiếm tức thì của mạng Internet so với rào cản địa lý và thủ tục mượn đọc của thư viện truyền thống. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách cho Cục phải đẩy mạnh số hóa tài liệu toàn văn và phát triển các dịch vụ tra cứu trực tuyến từ xa.
Cơ chế hoạt động của Liên hợp Thư viện Việt Nam về nguồn tin điện tử mang lại hiệu quả gì?
Với quy mô xấp xỉ 70 đơn vị thành viên vào năm 2015, Liên hợp Thư viện vận hành theo nguyên tắc phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn tin số. Cơ chế đàm phán mua chung bản quyền giúp các viện nghiên cứu và trường đại học tiết kiệm từ 20% đến 30% chi phí so với phương thức mua độc lập.
Điểm mới nổi bật của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 về hoạt động thông tin là gì?
Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và Nghị định 11/2014/NĐ-CP đã luật hóa quy định bắt buộc đăng ký, giao nộp kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước. Đồng thời, văn bản quy định rõ trách nhiệm xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia và đầu tư phát triển mạng thông tin tiên tiến VinaREN kết nối quốc tế.
Kết luận
Nghiên cứu về chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình cấp quốc gia tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia mang lại 5 kết luận cốt lõi:
- Thông tin khoa học và công nghệ là nguồn lực sống còn, giúp tiết kiệm từ 40% đến 70% ngân sách nhờ phòng ngừa trùng lặp đề tài và định hướng nghiên cứu trúng đích.
- Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia giữ vai trò hạt nhân với nguồn tài nguyên phong phú gồm hơn 12.500 báo cáo nghiên cứu và quỹ bổ sung nguồn tin quốc tế 12 tỷ đồng hàng năm.
- Xu hướng sử dụng thông tin chuyển dịch mạnh sang môi trường điện tử với 83% người dùng tra cứu qua Internet hàng ngày, đặt ra yêu cầu phải hiện đại hóa toàn diện dịch vụ thông tin.
- Mô hình Liên hợp Thư viện Việt Nam với khoảng 70 thành viên chứng minh tính hiệu quả vượt trội trong việc tối ưu hóa ngân sách mua tài nguyên số quốc tế.
- Khung chính sách hỗ trợ giai đoạn 2016 - 2020 cần tập trung đột phá vào 4 trụ cột: phát triển nguồn tin số hóa nội sinh, nâng cấp hạ tầng mạng VinaREN, chuẩn hóa dịch vụ tra cứu theo yêu cầu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng và xác lập hệ thống giải pháp chính sách có cơ sở khoa học vững chắc nhằm nâng cao năng lực mạng lưới thông tin quốc gia. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan quản lý và các tổ chức nghiên cứu cần nhanh chóng phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp thể chế, đẩy mạnh chia sẻ nguồn lực dữ liệu nhằm tạo xung lực mạnh mẽ thúc đẩy nền khoa học công nghệ nước nhà hội nhập sâu rộng với thế giới.