CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về nhà ở và chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người dân vùng DTTS 1. Tổng quan nghiên cứu về nhà ở Trong bản Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã nêu “Nhà ở luôn là một khát vọng đáng kể trong việc thể hiện gia đình và đầu tư rõ ràng nhất của hộ gia đình, nó đóng một trai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước và rất quan trọng đối với sự thịnh vượng của một quốc gia”. Theo Abd Aziz và cộng sự (2011), “Nhà ở là một tài sản có giá trị đáng kể, mang ý nghĩa đa chiều, đóng một vai trò nổi bật trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là một địa điểm không gian của cuộc sống cá nhân và gia đình”.
Mặc dù nhà ở là một nhu cầu bức thiết và mang nhiều ý nghĩa, nhưng việc tiếp cận nhà ở giá rẻ và đầy đủ vẫn là một thách thức không ngừng gia tăng trên toàn cầu (Beer và cộng sự, 2007). Vấn đề nhà ở giá rẻ, hay hỗ trợ nhà ở cho người có thu nhập thấp cần phải có sự can thiệp từ bàn tay của Chính phủ, theo Tuyên bố Vancouver (1976): “Chỗ ở và các dịch vụ đầy đủ là quyền cơ bản của con người, chính phủ có nghĩa vụ đảm bảo tất cả mọi người đều có được điều đó, bắt đầu bằng những hỗ trợ trực tiếp cho những người ít cơ hội nhất, thông qua những chương trình hướng dẫn hoạt động tự vươn lên và hành động cộng đồng”. Tác động của nhà ở đối với dân cư, đặc biệt là đến vấn đề sức khỏe, tâm lý hành vi, sự an toàn, nghèo đói… Newman và Goldman (2008) chỉ ra những người vô gia cư được coi là có nguy cơ cao nhất, với những vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe tâm thần, dễ bị tổn thương và ít có khả năng thành công nhất. Nhiều người có vấn đề y tế nghiêm trọng, thường xuyên đến phòng cấp cứu tại bệnh viện (Kertesz và cộng sự, 2009).
Các tình trạng mãn tính như hen suyễn và các bệnh lý hô hấp khác trở nên trầm trọng hơn bởi nhà ở không đạt tiêu chuẩn nơi nước xâm nhập và thông gió kém dẫn đến ẩm ướt và nấm mốc, điều kiện sống lạnh góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và sức khỏe kém (Younger và cộng sự, 2014). Xét về tiêu chuẩn nhà ở, ở mỗi quốc gia lại có những quy định và quan niệm khác nhau xuất phát từ khí hậu, văn hóa, mức độ đô thị hóa và phát triển kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến tiêu chuẩn nhà ở. Tuy nhiên, tựu chung lại tiêu chuẩn nhà ở đều dựa vào các tiêu chí và thỏa mãn về mặt không gian, kích thước, mật độ và đảm bảo thiết yếu, cơ bản nhất của người ở như môi trường, tính truyền thống, sức khỏe con người. 8 Theo Atkinson & Jacobs (2008), nhà ở tối thiểu phải đáp ứng những nhu cầu cơ bản, thiết yếu nhất của người cư ngụ như nơi cư ngụ, vấn đề về phúc lợi xã hội và chăm sóc sức khỏe.
UNO (1969) cho rằng tiêu chuẩn về nhà ở xuất phát từ trình độ văn hoá của người dân. Đồng thời cũng có lập luận cho rằng tiêu chuẩn về nhà ở nên kết hợp các tính năng tốt nhất của thực tiễn truyền thống với nền kinh tế và tính hợp lý của kỹ thuật hiện đại. Hoàng Anh (2012) cho rằng “việc xác định quy mô cho những phương án nhà ở là một bài toán có nhiều tham số, tác động qua lại lẫn nhau. Đây là bước quyết định cho việc lựa chọn giải pháp không gian ở thích hợp nhất đối vừng từng loại nhà ở xã hội cụ thể”, ngoài ra theo tác giả “không gian ở tối thiểu là yếu tố quan trọng nhất khi xây dựng nhà ở.
Nó được xác định bởi các quá trình công năng xuất phát trong cuộc sống (chuẩn bị thức ăn, nghỉ ngơi, vệ sinh.) bởi những nhu cầu sinh lý của con người (trao đổi không khí sạch, khả năng được chiếu sáng) và cuối cùng là sự tác động của các đặc điểm kinh tế xã hội”. WB (2015) đề xuất chương trình hỗ trợ nhà ở tự xây thông qua việc xây dựng các căn hộ cơ bản được gọi là “nhà ở cơ bản ban đầu”, nhắm tới “các hộ gia đình thu nhập thấp nhất ở các khu vực đô thị và ngoại ô và vùng nông thôn có hạ tầng tốt tại Việt Nam. Căn hộ cơ bản có thể là căn nhà một tầng với ít nhất một phòng 12m2 trở lên, có thể chuyển vào ở ngay và có thể cơi nới dần sau này tuỳ theo nhu cầu và sở thích thay đổi của các hộ gia đình. Căn hộ cơ bản cho phép những người có thu nhập thấp nhất, những người không thể tự xây nhà, có một sự khởi đầu trong quá trình nhà ở của họ với cơ sở hạ tầng cơ bản”.
Nhà ở cơ bản ban đầu giảm thiểu tiêu cực phát sinh từ các giải pháp tự xây nhà hoàn toàn trong khu vực ổ chuột, chẳng hạn như các vấn đề y tế công cộng, và là chi phí hiệu quả hơn so với việc nâng cấp. Tổng quan nghiên cứu về chính sách hỗ trợ nhà ở đối với người dân Vùng DTTS Nghiên cứu hướng vào tổng kết kinh nghiệm, thực tiễn chính sách của các quốc gia trên thế giới Chính sách nhà ở xã hội cho người dân tộc thiểu số, người có thu nhập thấp hoặc người dân nhập cư là một chính sách xã hội được trú trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm thể hiện sự nhân đạo của chế độ chính trị cũng như đảm bảo vấn đề trật tự trị an của các quốc gia. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã tập trung khai thác vào các kinh nghiệm này, kể đến như: Najla Fathalia và Abdelnaser Omran (2018), Taichee Wonga và Charles Goldblumb (2016), Clinton Ohis Aigbavboa, Wellington Didi Thwala (2011) với các chính sách nhà ở theo hướng 9 chính phủ đóng vai trò chính trong việc trợ cấp, bao cấp nhà ở cho người dân ở các nước tương ứng là Libia, Pháp, Nam phi. Các nghiên cứu này chỉ ra, việc chính phủ cố gắng cung cấp một lượng lớn nhà ở cho hầu hết người dân có thu nhập thấp hoặc dân nhập cư, hoặc dân tộc thiểu số là một gánh nặng lớn đối với ngân sách quốc gia.
Bên cạnh đó, thay vì xây dựng các khu dân cư tập trung dân tộc, thì nhiều quốc gia (Anh, Phần Lan) đã có chính sách pha trộn dân tộc hay các khu dân cư hỗn hợp để tránh phân biệt chủng tộc và tăng khả năng tiếp cận xã hội, hòa hợp dân tộc (Dhalmann và Katja Vilkama (2009), Maarten VanHam và David Manley (2009)). Tuy nhiên, các tác giả nhận thấy chính sách này không thực sự phát huy hiệu quả, nhóm các dân tộc thiểu số thường có xu hướng co cụm, tập trung ở khu vực có chung nguồn gốc dân tộc hơn thay vì lựa chọn chuyển đến các khu dân cư hỗn hợp. Ở trong nước, kinh nghiệm chính sách nhà ở cũng được một số nhà nghiên cứu tổng kết như: Khánh Phương (2012), Nguyễn Quang Giải (2014). Về kinh nghiệm quốc tế cho chính sách nhà ở xã hội, Khánh Phương (2012): “tại Singapore việc lập ra một cơ quan/tổ chức duy nhất được trao quyền xây dựng, tái phát triển, xóa bỏ khu ổ chuột, tái định cư và quản lý quỹ đất ở; chịu trách nhiệm về nhà ở chất lượng với giá phải chăng giúp phân bổ và quy hoạch nguồn lực hiệu quả, với bộ máy có duy nhất một tổ chức chịu trách nhiệm và điều hành nên cơ quan/tổ chức này có khả năng đảm bảo quỹ đất, nguyên vật liệu và nguồn nhân lực cho các công trình xây dựng quy mô lớn nhằm tối ưu hóa kết quả, tiết kiệm chi phí.
Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách đặt ra khung pháp lý cho sự hình thành chung cư xã hội, đặc biệt là xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cho căn hộ trong chung cư xã hội”. Tại Pháp, “nhà nước chủ động can thiệp bằng cách đặt ra khung pháp lý cho sự hình thành chung cư xã hội, đặc biệt là xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cho căn hộ trong chung cư xã hội”. Nguyễn Quang Giải (2014) phân tích những chính sách, kinh nghiệm phát triển nhà ở một số nước trên thế giới (Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc), từ đó gợi ý về mặt thể chế, chính sách phát triển nhà ở cho người thu nhập thấp. Thứ nhất, Chính phủ đặt mục tiêu nhà ở cho người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp, người nghèo từ rất sớm trong lịch sử xây dựng và phát triển đất nước của mình.
Thứ hai, Mục tiêu nhà ở cho người dân được coi trọng, được vạch ra trong chiến lược hành động của chính quyền các cấp. Coi đây là một trong những nhiệm vụ phải theo đuổi và cam kết thực hiện cho bằng được. Thứ ba, Nhiều cơ quan chuyên trách về nhà ở được thành lập từ trung ương đến địa phương. Các cơ quan này phối hợp, hỗ trợ, tương tác với nhau rất khoa học, đồng bộ và chuyên nghiệp.
Thứ tư, Các chủ trương, chính sách về nhà ở được nghiên cứu, vận dụng, triển khai, điều chỉnh rất linh hoạt, phù hợp với thực tiễn 10 của địa phương. Cuối cùng, Vấn đề xã hội hóa nhà ở đã thành công, trước tiên là nhờ chính sách đúng, mục tiêu hướng đến “an cư lạc nghiệp” của người dân được đặc biệt chú trọng, trong đó vai trò của Nhà nước là quan trọng nhất. Nghiên cứu hướng vào thực thi chính sách nhà ở Al-Homoud M. (2009) chỉ ra rằng hiệu quả của chính sách nhà ở cho người thu nhập thấp phụ thuộc vào vấn đề thực thi chính sách trong đó sự hợp tác của các nhân tố chủ chốt tham gia vào quá trình triển khai chính sách; thủ tục dễ dàng thuận tiện cho các tổ chức cung ứng nhà ở và dịch vụ nhà ở trong việc vay vốn ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra rằng việc ưu tiên trong thuế, phí và các luật lệ, thủ tục đơn giản, giảm lãi suất vay, khuyến khích thúc đẩy, miễn trừ thuế dễ dàng và linh hoạt trong các hình thức áp dụng luật cho tổ chức cung ứng nhà ở và dịch vụ nhà ở có thể mang lại hiệu quả cho chính sách nhà ở cho người dân tộc thiểu số/nhóm yếu thế. Cleepham và Kintree (1984) cho rằng: “Sự thu hẹp của khu vực xã hội đã làm giảm sự lựa chọn cho các hộ gia đình cần nhà ở xã hội, và có khả năng ảnh hưởng đến người DTTS hơn.