phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, khoá luận được kết cấu thành 3 chương: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn cấp huyện. CHƢƠNG 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. CHƢƠNG 3: Quan điểm và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1.1 Đồng bào dân tộc thiểu số và chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số 1.
Đồng bào dân tộc thiếu số Hiện nay, các khái niệm về dân tộc, dân tộc thiểu số có thể được tìm thấy trong nhiều sách, giáo trình chuyên ngành hay trong tài liệu nghiên cứu,… Và được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu có liên quan đến phạm vi về dân tộc và các nhóm dân tộc thiểu số. Trong đó, một số khái niệm điển hình về dân tộc và dân tộc thiểu số được các nhà nghiên cứu sử dụng như: Khái niệm Dân tộc: Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam trong tập 2 phần Dân tộc học có đưa ra định nghĩa (2009), “Dân tộc hay quốc gia dân tộc là một cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu được hình thành do sự tập hợp của nhiều bộ lạc và liên minh bộ lạc, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người của bộ phận tộc người. Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau …”(Viện Từ điển học và Bách khoa thư viện Việt Nam, 2009) Theo Nhà dân tộc học Phạm Văn Hảo, người được xem là người đầu tiên đưa ra định nghĩa về dân tộc một cách đầy đủ và khoa học lại cho rằng dân tộc là (1972), “Cộng đồng người có những đặc điểm chung về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, văn hoá, tâm lý, tập quán, sinh hoạt kinh tế, cư trú trên một lãnh thổ nhất định, có ý thức về sự thống nhất của mình và được pháp luật nhà nước thừa nhận.”(Dân tộc học việt Nam, 1972) Theo Nhà sử học Đào Duy Anh, người là một trong những nhà khoa học Việt Nam đầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu về khái niệm “Dân tộc”. Khái niệm của ông đã có sức ảnh hưởng mạnh đến việc nghiên cứu về dân tộc học và lịch sử Việt Nam lại nhấn mạnh rằng (1975), “Dân tộc là một cộng đồng người có tính ổn định và phát triển chứ không phải là một tập hợp ngẫu nhiên của các cá nhân.
Các yếu tố cấu 9 thành dân tộc luôn được củng cố và phát triển qua quá trình sinh sống, lao động và đấu tranh chung của các thành viên trong cộng đồng.”(Cơ cấu xã hội Việt Nam, 1975) Như vậy, có thể hiểu dân tộc là: cộng đồng tộc người có mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ và lâu dài, có cùng cội nguồn lịch sử, chung hoạt động sản xuất kinh tế và đời sống văn hoá; có ngôn ngữ riêng và có những nét đặc thù về văn hoá. Theo những khái niệm dân tộc nêu trên, thì có thể hiểu khái niệm về dân tộc Việt Nam một cách rõ hơn là: một quốc gia, một cộng đồng chính trị, xã hội bao gồm tất cả 54 dân tộc, từ ít người đến đông người, từ thiểu số đến đa số, mỗi dân tộc đều có bản sắc, sắc thái văn hoá riêng và cùng sinh sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Việt Nam thống nhất. Trong đó, các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi (chiếm ¾ diện tích đất tự nhiên của cả nước), đây là vùng có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng và môi trường sinh thái của đất nước. Khái niệm Dân tộc thiểu số: Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc (2011), “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với các dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam: Thứ nhất, hầu hết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam có quy mô dân số, trình độ phát triển kinh tế và xã hội không đồng đều. Có sự khác biệt đáng kể về các điều kiện và mức sống giữa các dân tộc và giữa các vùng địa lý khác nhau. Thứ Hai, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam không bị chia cắt theo lãnh thổ hay chỉ cư trú ở một khu vực nhất định mà sẽ cư trú theo kiểu vừa rải rác, vừa xen kẽ nhau. Mỗi dân tộc đều mang trong mình những bản sắc văn hoá riêng, độc đáo, điều đó góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn hoá Việt Nam.
Các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống hầu như ở vùng sâu vùng xa, còn gặp nhiều khó khăn về giao thông đi lại. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao. Kết quả là họ dễ trở nên bị cô lập và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực như tín dụng, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, thị trường và chính sách phát triển. Thứ Ba, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chủ yếu sinh sống ở miền núi, biên giới, điều đó có nghĩa là các dân tộc thiểu số có một vai trò đặc biệt quan trọng trong 10 chiến lược về chính trị, kinh tế, chiến lược an ninh, quốc phòng, môi trường của đất nước.
Một số quan niệm về nghèo Nghèo là một vấn đề xã hội mang tính chất toàn cầu. Nghèo không chỉ tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển mà nghèo còn tồn tại ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những khái niệm riêng biệt về nghèo, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mức sống của quốc gia đó và hệ thống chính trị. Nghèo được hiểu theo cách phổ thông là tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân hầu như chỉ đủ và đôi khi không đủ để đáp ứng nhu cầu lương thực của họ.
Ngoài ra, các nhu cầu khác như quần áo, y tế, giáo dục, văn hoá, du lịch, đi lại và giao tiếp chỉ được đáp ứng ở mức độ rất hạn chế hoặc hoàn toàn không được đáp ứng. Nhưng ở những góc độ tiếp cận khác nhau thì nghèo được định nghĩa không giống nhau, cụ thể: Theo hội nghị chống đói nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP được tổ chức vào tháng 9 năm 1993 ở Bangkok – Thái Lan lại cho rằng nghèo là tình trạng mà trong đó là một bộ phận dân cư không được thoả mãn và hưởng các nhu cầu cơ bản. Mức cơ bản đó được dựa trên trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán ở nơi đó đề ra. Đây cũng là quan điểm mà các nước trên thế giới và có cả Việt Nam đồng tình với quan điểm này.
Trong báo cáo phát triển thế giới của Tổ chức Liên hợp quốc đưa ra quan điểm về nghèo năm 1990 lại cho rằng nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để có thể tham gia các hoạt động xã hội một cách hiệu quả. Nghèo có nghĩa là tình trạng thiếu thốn về mặt vật chất như không có đủ ăn, đủ quần áo hay không được đi học, chữa bệnh, không có đất đai để sản xuất, không được tiếp cận các tín dung và thất nghiệp không đủ năng lực nuôi sống bản thân. Hay nghèo cũng có nghĩa là không được đảm bảo an toàn về mọi mặt và dễ bị bạo hành và phải sống trong các điều kiện thiếu thốn, rủi ro. Chương trình phát triển liên hợp quốc với tiêu điểm về khắc phục sự nghèo khổ của con người được viết trong bản báo nhanh đã đưa ra một số nhận định về nghèo: (1) Sự thiếu về những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết, biết đưa ra quan điểm và tham gia vào các quyết định của xã hội và được nuôi dưỡng tạm đủ thì được 11 coi là sự nghèo khổ của con người; (2) Sự thiếu thốn về mặt vật chất điển hình là thiếu về mặt tiền bạc không đủ khả năng chi tiêu tối thiểu và mực thu nhập dưới mức quy định được coi là sự nghèo khổ về tiền tệ; (3) Đỉnh cao của sự nghèo khổ là không thể đủ khả năng thoả mãn những nhu cầu tối thiểu được coi là sự nghèo khó cực độ.
Dựa trên các khái niệm về nghèo và căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội của nước ta và mức thu nhập của người dân trong những năm gần đây, khái niệm nghèo được hiểu là: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có nhưng điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng xét trên mọi phương diện. Khái niệm nghèo có thể tiếp cận ở hai phương diện là: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Khái niệm nghèo tuyệt đối: Nghèo tuyệt đối theo Robert McNamra, khi còn là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa ra khái niệm (1973), “Nghèo ở mức tuyệt đối … là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt qua sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới tri thức chúng ta.) Hay theo một khái niệm dễ hiểu hơn về nghèo tuyệt đối là tình trạng không có đủ các phương tiện để đáp ứng đủ những yêu cầu cơ bản mà con người cần như: nước sạch, thức ăn, chăm sóc sức khoẻ, quần áo, giáo dục và nơi ở,… Nghèo tuyệt đối được đo lường bằng ngưỡng nghèo tuyệt đối.
Ngưỡng nghèo tuyệt đối là mức thu nhập hoặc mức tiêu dùng tối thiểu cần thiết để đáp ứng các nhu cầu cơ bản nhất của cuộc sống. Ngưỡng nghèo tuyệt đối có thể thay đổi theo thời gian và địa điểm, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia.