phần mở đầu, kết luận, thƣ mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục theo quy định của một luận văn thạc sĩ, nội dung luận văn gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970 Chƣơng này nêu và phân tích những yếu tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 nhƣ: Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng với thế cân bằng quân sự giữa Mỹ và Liên Xô, nhân tố Trung Quốc và mâu thuẫn Trung Quốc – Liên Xô; Thực trạng nƣớc Mỹ với sự suy giảm địa vị kinh tế, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến lƣợc toàn cầu của Mỹ đặc biệt là Học thuyết Nixon; Tình hình Nhật Bản cuối thập niên 1960 – đầu thập niên 1970 với đặc điểm nổi bật là tốc độ phát triển ―thần kì‖ về kinh tế và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến thâm hụt mậu dịch của Mỹ…Qua đó thấy đƣợc những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của từng yếu tố đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản từ 1969 – 1973. CHƢƠNG II: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ CỦA TỔNG THỐNG R. NIXON (1969 – 1973) Tập trung vào sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với Nhật Bản trên hai phƣơng diện: Chính trị - an ninh và Kinh tế. Về phƣơng diện Chính trị - an ninh, Mỹ tiếp tục duy trì mối quan hệ đồng minh chiến lƣợc với Nhật Bản thông qua việc gia hạn vĩnh viễn Hiệp ƣớc An ninh và trao trả quần đảo Okinawa cho Nhật Bản.
Về phƣơng diện kinh tế, Mỹ buộc phải gây áp lực khiến Nhật Bản phải hạn chế xuất khẩu hàng dệt len và sợi nhân tạo sang Mỹ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và định giá lại đồng Yen so với USD. Qua đó rút ra một số nhận xét về hai sự điều chỉnh đó. CHƢƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973 không chỉ có tác động tới bản thân hai chủ thể của mối quan hệ này là Mỹ và Nhật Bản mà còn có tác động sâu sắc đến mối quan hệ liên minh Mỹ - Nhật Bản, tới quan hệ quốc tế và Việt Nam trong thời kì đó. Những tác động này có mặt tích cực cũng nhƣ hạn chế với từng chủ thể.
Trên phƣơng diện an ninh – chính trị, việc gia hạn vĩnh viễn Hiệp ƣớc An ninh Mỹ - Nhật Bản và Mỹ trao trả quần đảo Okinawa cho Nhật Bản có những tác động tích cực tới cả hai chủ thể của mối quan hệ đồng thời cũng góp phần vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á. Tuy nhiên, việc Okinawa đƣợc trao trả cho Nhật Bản cũng tạo nên một số thay đổi với một bộ phận quân nhân Mỹ cũng nhƣ cƣ dân Nhật Bản tại Okinawa. Trên phƣơng diện kinh tế, Mỹ buộc phải gây áp lực khiến Nhật Bản phải hạn chế xuất khẩu hàng dệt len và sợi nhân tạo sang Mỹ và định giá lại đồng Yen so với USD khiến quan hệ hai nƣớc trải qua một giai đoạn khó khăn với các cuộc đàm phán kéo dài và bế tắc. Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973 tuy không vƣợt ra khỏi khuôn khổ liên minh Mỹ - Nhật Bản nhƣng đã đánh dấu một thời kì mối quan hệ liên minh hai nƣớc bị thách thức bởi các vấn đề về kinh tế.
Bên cạnh đó, sự điều chỉnh này đã thúc đẩy sự trở lại bằng con đƣờng ―phi quân sự‖ của Nhật Bản ở Đông Nam Á, ngƣợc lại, Mỹ rút dần sự hiện diện trong khu vực. Theo đó, mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản bƣớc vào một thời kì mới. KẾT LUẬN 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970 1. Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng.
Thế cân bằng quân sự Mỹ - Liên Xô. ―Hiện giờ, trên thế giới có hai dân tộc lớn, họ có những điểm xuất phát không giống nhau nhƣng dƣờng nhƣ sẽ tiến tới cùng một mục đích, đó là ngƣời Nga và ngƣời Mỹ. Theo một sự sắp đặt thần bí nào đó của thƣợng đế, một ngày nào đó mỗi dân tộc sẽ nắm trong tay một nửa nhân loại.11] Lời tiên tri đó của Alexis Tocqueville từ năm 1835 hoàn toàn chính xác. Một thế kỉ sau đó, Mỹ và Liên Xô đã đóng vai trò trụ cột, quyết định thắng lợi của phe Đồng minh trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945).
Bƣớc ra khỏi cuộc chiến, Mỹ và Liên Xô trở thành hai cƣờng quốc có ảnh hƣởng lớn nhất trên thế giới, chi phối sự phát triển của lịch sử thế giới gần nửa thế kỉ trong cuộc chiến tranh lạnh. Một trong những căn nguyên đầu tiên của cuộc chiến tranh lạnh bắt nguồn từ những hiện tƣợng tâm lí khá đặc biệt. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Đức, Ý, Nhật Bản đã đầu hàng. Tuy nhiên, với chính quyền Mỹ, một mối đe dọa tiếp theo tới lợi ích quốc gia của Mỹ theo cách suy nghĩ của ngƣời Mỹ mối đe dọa này không kém phần nguy hiểm so với mối đe dọa từ chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện: đó là chủ nghĩa Cộng sản mà đại diện là Liên Xô.
Thực ra sự thù địch của Mỹ và cả các nƣớc tƣ bản khác với Liên Xô đã nhen nhóm từ ngay khi Cách mạng tháng mƣời Nga thành công và sau đó là thành lập nhà nƣớc Liên bang xô viết. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, cả thế giới đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của Hồng quân Liên Xô. Điều đó khiến Mỹ trở lại với sự thù địch trƣớc đó của mình với Liên Xô. Việc nƣớc Mỹ đang ở vị trí chi phối thế giới về kinh tế nhƣng về tƣ tƣởng lại lo sợ sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản chính là một hiện tƣợng tâm lí khá 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đặc biệt.
Đến năm 1947, với ―Chiến lƣợc toàn cầu‖ Mỹ đã chính thức phát động cuộc ―chiến tranh lạnh‖ nhằm vào Liên Xô. Từ đây, cả Liên Xô và Mỹ bƣớc vào một thời kì đối đầu hết sức căng thẳng kéo dài hơn 4 thập niên. Trong 4 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ nắm trong tay thế độc quyền về vũ khí hủy nguyên tử. Đối mặt Liên Xô, một nƣớc đóng vai trò quyết đinh trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình thế giới nhƣng lại là nƣớc chịu tổn thất nặng nề nhất sau chiến tranh thế giới thứ hai: khoảng 27 triệu ngƣời chết, 1710 thành phố, hơn 7 vạn làng mạc, gần 32000 xí nghiệp bị tàn phá nặng nề,.
[23, 10] Ngƣợc lại, nƣớc Mỹ ít bị tác động trực tiếp của bom đạn chiến tranh, số thƣơng vong cũng ít hơn rất nhiều với khoảng 30 vạn ngƣời. Nhờ buôn bán vũ khí Mỹ còn thu về hơn 114 tỉ đôla. Về kinh tế, khoảng nửa sau những năm 40, sản lƣợng công nghiệp Mỹ chiến tới hơn một nửa tổng sản lƣợng công nghiệp thế giới (riêng năm 1948 là hơn 56%). Năm 1949, sản lƣợng nông nghiệp Mỹ bằng hai lần sản lƣợng của các nƣớc Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại.
Ngoài ra, Mỹ có một kho vàng khổng lồ chiếm ¾ dự trữ vàng của thế giới, nền kinh tế của Mỹ chiếm 40% tổng sản phẩm của kinh tế thế giới. New York đã thay London trở thành trung tâm tài chính của thế giới. Bên cạnh đó, Mỹ cũng chiếm hơn 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển [23, 42]. Về quân sự, năm 1946 hải quân và không quân Mỹ đứng đầu thế giới, lục quân xếp thứ hai, quân đội Mỹ có mặt ở 56 quốc gia trên khắp thế giới.
Đặc biệt, trong bốn năm đầu sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ là nƣớc duy nhất trên thế giới nắm trong tay vũ khí nguyên tử. Rõ ràng, sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ là số 1 thế giới. Nhiều ngƣời cho rằng thời kì sau chiến tranh thứ hai là ―thời đại của Mỹ‖. Tuy nhiên, bằng quyết tâm của mình, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành trƣớc thời hạn kế hoạch 5 năm (1946-1950) trong 4 năm 3 tháng, căn bản khôi phục sản xuất đạt mức trƣớc chiến tranh.
Và trong những năm 50 đến những năm 70, Liên Xô vƣơn lên thành cƣờng quốc công nghiệp thứ hai thế giới, đi đầu trong những ngành công nghiệp vũ trụ và điện hạt nhân. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc biệt, từ năm 1949, khi Liên Xô cũng thử thành công bom nguyên tử, thế độc quyền vũ khí hạt nhân trƣớc đó của Mỹ đã bị phá vỡ. Có thể thấy, khác với các thể chế cân bằng quyền lực trƣớc đó, thời kì này vũ khí hạt nhân có vai trò quyết định trong cuộc chạy đua Mỹ – Xô. Từ sự đối lập về tƣ tƣởng, chính trị đã dần dẫn đến sự đối đầu về quân sự, chạy đua vũ trang với nhau.
Sự đối đầu về quân sự tăng cả về chất và lƣợng trong hai thập niên 1950 và 1960. Số đầu đạn hạt nhân của Mỹ năm 1950 là trên dƣới 1000 nhƣng đến 1960 là 20000. Năm 1955, Liên Xô hầu nhƣ không có đầu đạn hạt nhân thì đến 1960 đã có trên 3000. Tổng số vũ khí hạt nhân năm 1960 của Mỹ là 19 triệu megaton,của Liên Xô lên tới 18 triệu megaton.
Ngân sách dành cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Liên Xô tăng vƣợt bậc: năm 1950 bằng nửa của Mỹ thì đến 1963 tốc độ tăng phi mã lên tới 54,7 tỉ USD so với Mỹ 52,2 tỉ USD. Tiếp đó, năm 1957 Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Năm 1961 Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ có ngƣời lái… Thêm vào đó, sự mở rộng ảnh hƣởng của Mỹ (thông qua ―Kế hoạch Marshall‖ và khối NATO) và Liên Xô (thông qua tổ chức SEV và VACSAVA) đã làm cho tình trạng đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô không còn là phạm vi quốc gia mà trở thành cuộc đối đầu giữa hai hệ thống thế giới.