mở đầu cho Chủ nghĩa Liên Mỹ về chính trị, tuy nhiên phải đến 13 năm sau, nghĩa là dưới thời Kennedy, bản phác thảo 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về chủ nghĩa Liên Mỹ kinh tế mới ra đời. Liên minh vì sự tiến bộ (The Alliance for Progress) là một chương trình hợp tác liên Mỹ do tổng thống Kennedy đề xuất vào năm 1961, với thời hạn 10 năm, nhằm mục tiêu cơ bản là tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và thúc đẩy những cải cách xã hội tại Mỹ Latinh, tấn công vào tất cả những lĩnh vực đời sống: kinh tế, y tế, văn hóa,. Tuy nhiên, sau những mục đích bên ngoài này, vẫn ẩn chứa động cơ chính trị: đó là loại trừ tất cả các cơ hội của chủ nghĩa cộng sản lan truyền trên châu lục nhờ vào việc củng cố nền dân chủ. Tuy nhiên, sau sự ra mắt đầy phô trương, chương trình này đã nhanh chóng gặp phải nhiều vấn đề.
Giới tinh hoa lãnh đạo tại các nước Mỹ Latinh có sự nhìn nhận khá tiêu cực về những cải cách đã tiến hành, họ cho rằng chúng chủ yếu chỉ làm suy giảm địa vị của họ. Hơn nữa, cánh tả Mỹ Latinh không tin tưởng vào nước Mỹ, vốn được xem là một đế quốc. Vì vậy, chỉ 3 năm sau khi được đưa ra, Liên minh vì sự tiến bộ đã thể hiện sự yếu kém về thực chất. Quan tâm của nước Mỹ giờ đây đang hướng về khu vực Đông Nam Á và những dính líu tại Việt Nam.
Và mặc dù vẫn kéo dài 10 năm như dự kiến, dự án của Kennedy đã khó lòng đạt tới những mục tiêu đề ra. Như vậy, sự phát triển của chủ nghĩa Liên Mỹ về kinh tế trong suốt những năm 1960 không đi cùng với một tiến trình tương đồng về chính trị. Mặt khác, bản thân chủ nghĩa Liên Mỹ, mặc dù đã có một kết quả nào đó dưới thời Roosevelt và Truman, đã bị suy yếu vào những năm 1950 với sự quay trở lại của chủ nghĩa đơn phương và chủ nghĩa can thiệp. Rõ ràng, chủ nghĩa can thiệp của Mỹ đối với Mỹ Latinh là một nhân tố bất biến.
Chiến tranh Lạnh và chính sách đảo chính phòng ngừa của Mỹ Sau Thế chiến thứ hai, vấn đề đặt ra với nước Mỹ nằ m ở chỗ: nước này đạt được địa vị siêu cường thế giới, và những trách nhiệm của Mỹ cũng mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, Liên bang Xô viết lại thiết lập một hệ thống kinh tế, chính trị và xã hội hoàn toàn khác, cạnh tranh với Mỹ. Mỹ Latinh giờ đây chỉ là một con tốt trên bàn cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ, tuy nhiên vẫn là một mắt xích không thể thiếu. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì vậy, bất chấp những tham vọng tự chủ của các chính phủ Mỹ Latinh và sự tác động của Liên Xô, Mỹ vẫn không từ bỏ vai trò của mình trong khu vực.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thông qua Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS) và Hiệp ước Rio (1947), một hệ thống an ninh khu vực đã được thiết lập dưới sự bảo trợ của Mỹ và chủ yếu nhằm vào chủ nghĩa cộng sản. Mỹ khẳng định rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ đe dọa tới an ninh khu vực và mọi hành vi xâm nhập của chủ nghĩa cộng sản sẽ bị trả đũa. Những can thiệp tiếp theo của Mỹ mang tính chất chính trị - quân sự phản ánh điều này: Khủng hoảng tên lửa Cuba (11/1962), can thiệp quân sự tại Cộng hòa Dominica (1965), Grenada (1984) và Panama (1989). Trong tất cả các trường hợp, Mỹ đều không bị chỉ trích bởi những thể chế quốc tế cao nhất, bất chấp sự phản đối của đông đảo công luận Mỹ Latinh và trong một số trường hợp của cả các nước thành viên.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến những can thiệp mang tính kinh tế - chính trị, đặc biệt là tại Guatemala năm 1954 và Chile năm 1973. Trong trường hợp của Guatemala, cải cách nông nghiệp mà tổng thống Arbenz tiến hành đã châm ngòi cho khủng hoảng. Khi chính phủ nước này tiến hành quốc hữu hóa đất trồng trọt bằng cách trưng dụng đất của những chủ sở hữu lớn, trong đó có United Fruit, đánh đổi lại là sự miễn trừ thuế dựa trên những khai báo về thuế của doanh nghiệp này. Công ty này đã từ chối và cầu viện đến sự can thiệp của chính phủ Mỹ.
Lập tức, Mỹ tố cáo đường lối cộng sản của chế độ Azbenz, đồng thời CIA triển khai kế hoạch lật đổ chính phủ Guatemala vốn theo đuổi sự độc lập với Mỹ. Tháng 6/1954, vụ đảo chính được tiến hành và nhân vật thân Mỹ được đưa lên nắm quyền là Carlos Castillo Armas. Tẩt cả những kháng nghị của chính phủ Guatemala đều không được OAS xem xét, bởi vì sức ép từ phía Mỹ hơn là hiệp ước Caracas mà những nước này đã ký vào, tuyên bố chống lại sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản trong khu vực. Trường hợp của Chile cũng có những khía cạnh tương đồng.
Salvador Allende, người đứng đầu chính phủ theo khuynh hướng marxist đã lên nắm quyền một cách dân chủ và tiến hành chương trình quốc hữu hóa các ngành công nghiệp 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính của Chile. Đường lối này không đoạn tuyệt hoàn toàn với các chính sách cải cách xã hội quan trọng của Eduardo Frei, tuy nhiên đối với những doanh nghiệp Mỹ đó lại là một thảm họa. Chính phủ Allende đã quốc hữu hóa các mỏ đồng của doanh nghiệp Mỹ Anaconda và Kennecott. Sau đó, tham vọng quốc hữu hóa Công ty điện thoại và điện báo quốc gia (do International Telephone and Telegraph - ITT kiểm soát) đã thổi bùng lên sự giận dữ của phía Mỹ.
Những người đứng đầu ITT, sử dụng ảnh hưởng đối với các nhà cầm quyền Mỹ, đã thúc đẩy các âm mưu, ám sát và tham vọng đảo chính trước khi lật đổ được chính phủ Allende vào ngày 11/9/1973. Như vậy, bên cạnh khía cạnh chính trị của những can thiệp của Mỹ (chống lại chủ nghĩa cộng sản), thì việc bảo vệ quyền lợi kinh tế của Mỹ cũng là một nhân tố quan tro ̣ng quyết định. Tóm lại, cho đến những năm 1980, học thuyết Monroe vẫn là khuôn khổ lý thuyết và thực tế cho việc hoạch định chính sách của Mỹ đối với Mỹ Latinh. Trong suốt hai thế kỷ XIX và XX, nước Mỹ đã xây dựng và theo đuổi chủ nghĩa bá quyền khu vực và thế giới, Mỹ Latinh chỉ là bước đệm mở đầu cho chủ nghĩa can thiệp của người Mỹ.
Quan hệ Liên Mỹ từ giai đoạn bắt đầu cho đến khi kết thúc chiến tranh Lạnh có thế khái quát thành 4 giai đoạn quan trọng sau: 1)Học thuyết Monroe 1823 ra đời là nền tảng lý thuyết của chủ nghĩa đế quốc Mỹ tại bờ phía Nam Rio Grande; 2) Giai đoạn 1880-1890, trong thời gian đó chủ nghĩa đế quốc được cụ thể hóa bằng chủ nghĩa can thiệp quân sự dưới vỏ bọc là Chủ nghĩa Liên Mỹ (Panamericanism); 3) Sự bình thường hóa quan hệ tương đối, đă ̣c biê ̣t trong giai đoa ̣n những năm 1930 đến 1950 và sự đẩy mạnh vị trí trung tâm quyền lực của Mỹ trong Chủ nghĩa Liên Mỹ; 4) Quay trở lại với chính sách can thiệp của Mỹ bắt đầu từ giữa những năm 1950, liên quan đến bối cảnh của Chiến tranh Lạnh, và kéo dài cho cuối những năm 1980. 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2 CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI CÁC NƢỚC MỸ LATINH TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH 2. Nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại Mỹ đối với Mỹ Latinh trên một số lĩnh vực Chiế n tranh La ̣nh kế t thúc chin ́ h thức vào năm 1991 cùng với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đã đặt dấu chấm hết cho trật tự thế giới hai cực. Trong bối cảnh toàn cầ u mới này , Mỹ trở thành siêu cường “không đối thủ” [30, tr284] về kinh tế và quân sự.
Vị thế của Mỹ trên trường quốc tế được củng cố hơn rất nhiều và đạt được sức mạnh chưa từng có. Chiế n lươ ̣c toàn cầ u của Mỹ cũng đã có những bước điề u chin ̉ h quan tro ̣ng. Chính quyền Mỹ đã chuyển từ chiến lược “ngăn chặn”, chủ yếu nhằm vào chủ nghĩa cộng sản, sang một chiến lược mới là “can dự và mở rộng”. Những ý tưởng đầu tiên về chiến lược này được đưa ra trong phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher tại trường Đại học Tổng hợp Columbia ngày 20/9/1993, và chính thức được đề cập đến như một chiến lược cụ thế trong bài phát biểu của Cố vấn an ninh quốc gia Anthony Lake tại trường Đại học tổng hợp Johns Hopkins ngày 21/9/1993.
Sau đó, ngày 27/9/1993, trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, tổng thống Mỹ Bill Clinton đã chính thức đưa ra chiến lược an ninh quốc gia “cam kết và mở rộng”. Trong chiến lược này, Mỹ xác định mục tiêu hàng đầu là đảm bảo sự lãnh đạo của mình trên toàn thế giới và ưu tiên triển khai các hoạt động trên cơ sở ba nội dung chính: 1)Đảm bảo vững chắc an ninh của Mỹ bằng một lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu cao, duy trì tiềm lực phòng thủ và đẩy mạnh các biện pháp hợp tác an ninh; 2)Hỗ trợ cho hoạt động phục hồi nền kinh tế Mỹ thông qua mở cửa thị trường nước ngoài và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu; 3) Thúc đẩy dân chủ ở nước ngoài [9,tr186]. 25 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, với sự điều chỉnh chiến lược an ninh quốc gia và những mục tiêu mới được đề ra, chính sách đối ngoại của Mỹ bắt đầu có những thay đổi quan trọng, và chính sách với khu vực Mỹ Latinh cũng sẽ không phải là một ngoại lệ. Trên thực tế, kết thúc của chiến tranh Lạnh và "mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản" không làm lục địa Mỹ Latinh xa rời khỏi những mối quan tâm lợi ích chiến lược của Mỹ.
Giai đoạn này, chính sách của Mỹ đối với khu vực này tập trung vào hai mục tiêu rõ ràng là củng cố dân chủ và thiết lập nền kinh tế thị trường trong khu vực. Nước Mỹ vừa muốn thúc đẩy tự do thương mại trong khu vực để thông qua đó thu về những lợi ích kinh tế và kiểm soát nguồn dự trữ to lớn tài nguyên thiên nhiên ở đây; đồng thời kiềm chế và giập tắt tất cả các nhân tố gây bất ổn định có thể tác động xấu đến tiến trình dân chủ hóa và đe dọa vai trò của Mỹ tại khu vực "sân sau" này.