Chương 1. Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số. Chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả th c hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai.
7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Cán bộ”, “Công chức” Tại khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức - Luật số 22/2008/QH12 có định nghĩa “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu c , phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức v , chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố tr c thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương t ngân sách nhà nước” [8, tr10]. Tại khoản 1 Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức - Luật số 52/2019/QH14 có định nghĩa “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển d ng, bổ nhiệm vào ngạch, chức v , chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong Luật cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan ph c v theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương t ngân sách nhà nước” [8, tr10].
Khái niệm “Dân tộc thiểu số”, “Dân tộc thiểu số ít người” Có nhiều khái niệm khác nhau định nghĩa về dân tộc thiểu số, như: Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong v ng hẻo lánh, ngoại vi, v ng ít phát triển về kinh tế - xã hội” [13, tr520]. Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Khoản 2 Điều 4 Nghị 8 Luan van định 05/2011/NĐ-CP đã nêu: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10.” Việt Nam có hơn 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% dân số và được gọi là dân tộc đa số.
Như vậy, khái niệm DTTS được hiểu là bao gồm 53 dân tộc trên toàn lãnh thổ (trừ dân tộc Kinh), mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán khác nhau, có ngôn ngữ riêng. Phần lớn dân tộc thiểu số nước ta tập trung sinh sống ở những khu vực biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn và hạn chế về các loại hình dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, giáo dục… Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10. Khái niệm “Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số” Từ các khái niệm cán bộ, công chức và DTTS, có thể hiểu: Cán bộ là người DTTS trong đề tài nghiên cứu này được hiểu là những người DTTS được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện - xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là người DTTS trong đề tài nghiên cứu này được hiểu là những người DTTS được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện - xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Từ đó có thể hiểu “cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức đang công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân t các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, cụm từ "cán bộ dân tộc thiểu số" được thay thế bằng cụm từ "cán bộ là người dân tộc thiểu số". Khái niệm “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Theo Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Hồng Đức, khái niệm đào tạo 9 Luan van được hiểu là “Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [6, tr156]. Tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức: “Đào tạo là quá trình truyền th , tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của t ng cấp học, bậc học”.
Như vậy, có thể hiểu rằng, đào tạo là hoạt động có chủ đích, có tổ chức và được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng mới. Hoạt động đào tạo được tổ chức trong các cơ sở giáo dục với thời gian, nội dung chương trình khác nhau và dành cho các cấp, bậc đào tạo khác nhau. Nói đến khái niệm bồi dưỡng, Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Hồng Đức, định nghĩa bồi dưỡng là “nuôi dưỡng thêm, làm cho người nào đó giỏi và tốt hơn” [6, tr58]. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Như vậy, bồi dưỡng được hiểu là hoạt động bổ sung, cập nhật thêm những kiến thức mới.
Là hoạt động giúp nâng cao, bổ sung những phẩm chất nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn nhằm giúp người học hoàn thành nhiệm vụ được giao tốt hơn. Từ những khái niệm trên, có thể kết luận: Đào tạo bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính công nói riêng. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (CB,CC) là quá trình tổ chức học tập, rèn luyện cho đội ngũ CB,CC nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện công vụ; giúp đội ngũ CB,CC hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khái niệm “Chính sách”, “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Đại Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm “Chính sách là những chuẩn tắc c thể để th c hiện đường lối, nhiệm v.
Chính sách được th c hiện trong một thời 10 Luan van gian nhất định, trên những lĩnh v c c thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách t y thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm v chính trị, kinh tế, văn hóa…” [13, tr417]. Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có m c đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động, là hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và các kết quả hợp lý do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức.
Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng m c tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [7, tr13]. Căn cứ vào những quan điểm chính sách, chính sách công nêu trên và khái niệm đào tạo bồi dưỡng đã được đề cập trước đó, có thể nhận định chính sách đào tạo bồi dưỡng như sau: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC được hiểu là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị cho đội ngũ CB,CC trong thực thi công vụ, đáp ứng mục tiêu của tổ chức và yêu cầu phát triển của đất nước. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng được thể chế hóa bằng văn bản, chương trình, dự án thực hiện, áp dụng vào thực tiễn nhằm đạt được các mục tiêu theo định hướng. Khái niệm “Thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, hiểu đơn giản, thực thi là thực hiện, là tiến hành.
Theo Mazmanian và Sabatier: “Th c thi là th c hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của toà án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các m c tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình th c thi” [10, tr2]. 11 Luan van Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo: “Th c thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nưốc được chuyển thành các chương trình, thủ t c, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội”. Ottoson và Green cho rằng: “Th c thi là một quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưỏng được thể hiện trong chính sách công được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội.
Thông thường, hành động xã hội được biến đổi t chính sách nhằm đạt được s cải thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ t c, quy định và hành động” [10, tr3].