Luận văn tốt nghiệp chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện mang yang tỉnh gia lai

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số tại, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất

Chuyên ngành

Quản Trị Nhân Lực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Lịch sử nghiên cứu

1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Giả thuyết khoa học

1.7. Đóng góp của đề tài. Bố cục của đề tài

2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1. Một số khái niệm cơ bản

2.1.1. Khái niệm “Cán bộ”, “Công chức”

2.1.2. Khái niệm “Dân tộc thiểu số”, “Dân tộc thiểu số ít người”

2.1.3. Khái niệm “Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số”

2.1.4. Khái niệm “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”

2.1.5. Khái niệm “Chính sách”, “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”

2.1.6. Khái niệm “Thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức”

2.2. Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.3. Đặc điểm của cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.4. Nội dung của chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.5. Vai trò đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.6. Các nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.7. Quy trình thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.8. Hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

2.10. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

2.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

3. CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI

3.1. Khái quát về huyện Mang Yang và đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện

3.1.1. Khái quát về huyện Mang Yang

3.1.2. Khái quát đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang

3.2. Hệ thống hóa các văn bản pháp luật của Đảng, Nhà nước và chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, trong đó có huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai

3.2.1. Các văn bản quy định về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của Đảng và Nhà nước

3.2.2. Hệ thống hóa các chính sách trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên trong đó có huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai

3.3. Quá trình thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang

3.3.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

3.3.2. Phân công, tổ chức thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

3.3.3. Đôn đốc, theo dõi thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

3.3.4. Tổng kết, đánh giá quá trình thực thi chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang

3.4. Kết quả thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai và những hạn chế đang đặt ra

3.4.1. Kết quả đạt được

3.4.2. Nguyên nhân của hạn chế

3.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN MANG YANG TỈNH GIA LAI

4.1. Định hướng của tỉnh Gia Lai trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số giai đoạn 2023-2025 và tầm nhìn 2030

4.2. Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai

4.2.1. Tiếp tục xây dựng chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

4.2.2. Đổi mới nhận thức của đối tượng tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

4.2.3. Đa dạng hình thức và đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng

4.2.4. Nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng

4.2.5. Đầu tư và đảm bảo kinh phí hợp lý, kịp thời cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số

4.2.6. Đảm bảo hiệu quả thực hiện của các bước trong quy trình đào tạo, bồi dưỡng

4.2.7. Một số kiến nghị, đề xuất

4.2.7.1. Đối với cơ quan Trung ương
4.2.7.2. Đối với cơ quan cấp tỉnh
4.2.7.3. Đối với cơ quan, đoàn thể cấp huyện
4.2.7.4. Đối với cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số

4.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại Mang Yang Gia Lai

Chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của địa phương. Chính sách này nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức là người dân tộc thiểu số, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của huyện. Đặc biệt, việc đào tạo nhân lực cho các đối tượng này không chỉ giúp cải thiện chất lượng công việc mà còn tạo ra sự công bằng trong cơ hội phát triển. Theo Nghị quyết số 24-NQ/TW, Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

1.1. Tầm quan trọng của chính sách đào tạo

Chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại Mang Yang không chỉ là một yêu cầu cấp thiết mà còn là một nhiệm vụ chiến lược. Đội ngũ cán bộ công chức có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước. Việc đào tạo và bồi dưỡng giúp nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó cải thiện hiệu quả công việc. Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện, đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số đã có những bước tiến đáng kể về số lượng và chất lượng. Điều này cho thấy sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay.

II. Thực trạng chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại Mang Yang

Thực trạng đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang cho thấy nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng tồn tại không ít khó khăn. Đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc thiểu số đã được đào tạo qua nhiều chương trình khác nhau, tuy nhiên, chất lượng đào tạo vẫn chưa đồng đều. Một số cán bộ vẫn thiếu kỹ năng cần thiết để thực hiện nhiệm vụ. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn cao còn thấp, điều này ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Hơn nữa, việc cải cách hành chínhphát triển nguồn nhân lực cần được chú trọng hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể cho việc đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ này.

2.1. Những khó khăn trong quá trình thực hiện

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề lớn là nhận thức của một số cán bộ công chức về tầm quan trọng của việc đào tạo chưa cao. Điều này dẫn đến việc tham gia các khóa học không đạt yêu cầu. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất cho việc đào tạo còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng chương trình. Hơn nữa, việc thiếu kinh phí cho các hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cũng là một rào cản lớn. Do đó, cần có sự đầu tư hợp lý từ các cấp chính quyền để nâng cao hiệu quả của chính sách này.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại Mang Yang

Để hoàn thiện chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang, cần thực hiện một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần nâng cao nhận thức của cán bộ công chức về tầm quan trọng của việc đào tạobồi dưỡng. Thứ hai, cần đa dạng hóa hình thức đào tạo, từ đó tạo điều kiện cho nhiều đối tượng tham gia. Việc nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo cũng rất quan trọng, cần đầu tư vào cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc triển khai chính sách, đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả trong quá trình thực hiện.

3.1. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để hoàn thiện chính sách đào tạo cán bộ công chức dân tộc thiểu số bao gồm: xây dựng kế hoạch đào tạo chi tiết, xác định rõ đối tượng và nội dung cần thiết. Cần tổ chức các khóa đào tạo ngắn hạn, phù hợp với nhu cầu thực tế của địa phương. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ tài chính cho cán bộ công chức tham gia đào tạo. Việc đánh giá hiệu quả sau mỗi khóa học cũng cần được thực hiện thường xuyên để có những điều chỉnh kịp thời. Những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, đáp ứng yêu cầu phát triển của huyện Mang Yang.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số. Chính sách của Đảng, Nhà nước và kết quả th c hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai.

7 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƢỚC VỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Cán bộ”, “Công chức” Tại khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức - Luật số 22/2008/QH12 có định nghĩa “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu c , phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức v , chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố tr c thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương t ngân sách nhà nước” [8, tr10]. Tại khoản 1 Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức - Luật số 52/2019/QH14 có định nghĩa “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển d ng, bổ nhiệm vào ngạch, chức v , chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong Luật cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan ph c v theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương t ngân sách nhà nước” [8, tr10].

Khái niệm “Dân tộc thiểu số”, “Dân tộc thiểu số ít người” Có nhiều khái niệm khác nhau định nghĩa về dân tộc thiểu số, như: Đại Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “dân tộc thiểu số là dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) sống trong v ng hẻo lánh, ngoại vi, v ng ít phát triển về kinh tế - xã hội” [13, tr520]. Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Khoản 2 Điều 4 Nghị 8 Luan van định 05/2011/NĐ-CP đã nêu: “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10.” Việt Nam có hơn 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% dân số và được gọi là dân tộc đa số.

Như vậy, khái niệm DTTS được hiểu là bao gồm 53 dân tộc trên toàn lãnh thổ (trừ dân tộc Kinh), mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán khác nhau, có ngôn ngữ riêng. Phần lớn dân tộc thiểu số nước ta tập trung sinh sống ở những khu vực biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn và hạn chế về các loại hình dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, giáo dục… Tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc định nghĩa: “Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10. Khái niệm “Cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số” Từ các khái niệm cán bộ, công chức và DTTS, có thể hiểu: Cán bộ là người DTTS trong đề tài nghiên cứu này được hiểu là những người DTTS được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện - xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là người DTTS trong đề tài nghiên cứu này được hiểu là những người DTTS được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở huyện - xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Từ đó có thể hiểu “cán bộ, công chức dân tộc thiểu số” là những cán bộ, công chức được quy định tại Luật cán bộ, công chức đang công tác trong một tổ chức xác định của hệ thống chính trị, có thành phần xuất thân t các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Trong một số văn kiện của Đảng và Nhà nước, cụm từ "cán bộ dân tộc thiểu số" được thay thế bằng cụm từ "cán bộ là người dân tộc thiểu số". Khái niệm “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Theo Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Hồng Đức, khái niệm đào tạo 9 Luan van được hiểu là “Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [6, tr156]. Tại khoản 1 Điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức: “Đào tạo là quá trình truyền th , tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của t ng cấp học, bậc học”.

Như vậy, có thể hiểu rằng, đào tạo là hoạt động có chủ đích, có tổ chức và được thực hiện theo một quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng mới. Hoạt động đào tạo được tổ chức trong các cơ sở giáo dục với thời gian, nội dung chương trình khác nhau và dành cho các cấp, bậc đào tạo khác nhau. Nói đến khái niệm bồi dưỡng, Từ điển Tiếng Việt của nhà xuất bản Hồng Đức, định nghĩa bồi dưỡng là “nuôi dưỡng thêm, làm cho người nào đó giỏi và tốt hơn” [6, tr58]. Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng công chức: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” Như vậy, bồi dưỡng được hiểu là hoạt động bổ sung, cập nhật thêm những kiến thức mới.

Là hoạt động giúp nâng cao, bổ sung những phẩm chất nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn nhằm giúp người học hoàn thành nhiệm vụ được giao tốt hơn. Từ những khái niệm trên, có thể kết luận: Đào tạo bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực hành chính công nói riêng. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức (CB,CC) là quá trình tổ chức học tập, rèn luyện cho đội ngũ CB,CC nhằm trang bị và nâng cao kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện công vụ; giúp đội ngũ CB,CC hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Khái niệm “Chính sách”, “Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Đại Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm “Chính sách là những chuẩn tắc c thể để th c hiện đường lối, nhiệm v.

Chính sách được th c hiện trong một thời 10 Luan van gian nhất định, trên những lĩnh v c c thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách t y thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm v chính trị, kinh tế, văn hóa…” [13, tr417]. Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có m c đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là chương trình hành động, là hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và các kết quả hợp lý do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức.

Nguyễn Hữu Hải: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng m c tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [7, tr13]. Căn cứ vào những quan điểm chính sách, chính sách công nêu trên và khái niệm đào tạo bồi dưỡng đã được đề cập trước đó, có thể nhận định chính sách đào tạo bồi dưỡng như sau: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC được hiểu là một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị cho đội ngũ CB,CC trong thực thi công vụ, đáp ứng mục tiêu của tổ chức và yêu cầu phát triển của đất nước. Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng được thể chế hóa bằng văn bản, chương trình, dự án thực hiện, áp dụng vào thực tiễn nhằm đạt được các mục tiêu theo định hướng. Khái niệm “Thực thi chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức” Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, hiểu đơn giản, thực thi là thực hiện, là tiến hành.

Theo Mazmanian và Sabatier: “Th c thi là th c hiện một quyết định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan hành pháp hoặc các quyết định của toà án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác định vấn đề cần được giải quyết, quy định các m c tiêu cần theo đuổi và rất nhiều cách thức, định hình quá trình th c thi” [10, tr2]. 11 Luan van Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo: “Th c thi chính sách công phản ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nưốc được chuyển thành các chương trình, thủ t c, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những cải thiện xã hội”. Ottoson và Green cho rằng: “Th c thi là một quá trình lặp đi lặp lại, trong đó các ý tưỏng được thể hiện trong chính sách công được biến đổi thành hành vi, được thể hiện thành hành động xã hội.

Thông thường, hành động xã hội được biến đổi t chính sách nhằm đạt được s cải thiện xã hội; và thường được thể hiện phổ biến nhất dưới dạng các chương trình, thủ t c, quy định và hành động” [10, tr3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Chính sách đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức người dân tộc thiểu số tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai" của tác giả Lý Thị Mỹ Hạnh, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Thị Song Hà, trình bày những chính sách quan trọng trong việc nâng cao năng lực cho cán bộ công chức thuộc các dân tộc thiểu số. Bài viết không chỉ nêu rõ các chính sách hiện hành mà còn phân tích những thách thức và cơ hội trong quá trình thực hiện, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý giáo dục và đào tạo, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại các trường tiểu học huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, nơi cũng đề cập đến các phương pháp quản lý trong giáo dục, hay Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục An Toàn Giao Thông Tại Trường Trung Học Cơ Sở Huyện An Phú, An Giang, bài viết này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý giáo dục trong một lĩnh vực cụ thể. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Hoài Đức, Hà Nội, để thấy được sự liên kết giữa quản lý giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các chính sách và phương pháp trong lĩnh vực giáo dục hiện nay.