Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2011, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ghi nhận 48 quốc gia đã tiến hành 3.922 vụ điều tra chống bán phá giá trên toàn cầu với tỷ lệ áp dụng biện pháp chế tài đạt 64,8% (tương đương 2.543 vụ việc). Đặc biệt, nhóm các nước đang phát triển chiếm tới 51% tổng số vụ khởi xướng điều tra từ năm 2007 đến năm 2011. Tại Việt Nam, sau khi gia nhập WTO năm 2007, kim ngạch nhập khẩu đã tăng hơn 2 lần từ mức 62.792,7 triệu USD năm 2007 lên hơn 132.000 triệu USD vào năm 2013, kéo theo áp lực nhập siêu đỉnh điểm đạt 12.609,3 triệu USD năm 2010. Việc cắt giảm sâu các dòng thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế đã tạo ra làn sóng hàng ngoại nhập ồ ạt thâm nhập thị trường nội địa với mức giá cạnh tranh gay gắt, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của nhiều ngành sản xuất non trẻ.

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu giải quyết là sự thiếu hụt công cụ bảo vệ thị trường nội địa hợp pháp khi chính sách chống bán phá giá của Việt Nam gần như chưa được khai thác hiệu quả sau 10 năm ban hành Pháp lệnh năm 2004. Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích toàn diện thực trạng nhập khẩu và thực tiễn áp dụng các quy định phòng vệ thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2004 - 2013, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách chống bán phá giá đến năm 2020.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học để nâng cao năng lực ứng phó thương mại, bảo vệ công bằng thị trường cho hàng nghìn doanh nghiệp trong nước, giảm thiểu thiệt hại kinh tế hàng trăm triệu USD do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế và thương mại quốc tế:

Thứ nhất là Lý thuyết cạnh tranh không hoàn hảo và hành vi phân biệt giá quốc tế. Bán phá giá được xác định là hiện tượng một sản phẩm xuất khẩu có giá thấp hơn giá trị thông thường tại thị trường nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường theo Điều VI của Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định Chống bán phá giá WTO (ADA).

Thứ hai là Lý thuyết hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế trong phúc lợi tiêu dùng theo quan điểm của Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus. Lý thuyết này chỉ rõ trong ngắn hạn, hàng phá giá gia tăng thặng dư tiêu dùng; tuy nhiên trong dài hạn, chiến lược định giá hủy diệt nhằm độc quyền thị trường sẽ triệt tiêu sản xuất nội địa và gây tổn hại nghiêm trọng đến nền kinh tế.

Thứ ba là Lý thuyết phòng vệ thương mại hiện đại, tập trung vào ba điều kiện tiên quyết để áp thuế chống bán phá giá: xác định biên độ phá giá, xác định thiệt hại vật chất đáng kể của ngành sản xuất nội địa, và chứng minh mối quan hệ nhân quả khách quan giữa hành vi bán phá giá với thiệt hại thực tế. Nghiên cứu cũng vận dụng các khái niệm chuẩn mực như sản phẩm tương tự, biên độ tối thiểu de minimis và quy tắc xác định tư cách nguyên đơn chiếm tối thiểu 25% tổng sản lượng toàn ngành và nhận được trên 50% sự ủng hộ của các nhà sản xuất nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thống kê, Bộ Công Thương, Ban Thư ký WTO, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (USITC) và Ủy ban Châu Âu (EC) trong khung thời gian 10 năm (2004 - 2013).

Về quy mô và phương pháp chọn mẫu, luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu gồm toàn bộ 8 nhóm ngành hàng nhập khẩu chủ lực có kim ngạch từ 500 triệu USD đến hơn 8 tỷ USD/năm (sắt thép, phân bón, tân dược, chất dẻo, hóa chất, vải, nguyên phụ liệu dệt may, thuốc sinh học). Đồng thời, tác giả khảo sát chuyên sâu 5 hồ sơ đề xuất điều tra phòng vệ thương mại điển hình tại Việt Nam (thép không gỉ cán nguội, dầu cọ thô, mỳ chính, ống gang đúc, trứng gia cầm).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả chuỗi thời gian và nghiên cứu điển cứu tình huống (case study) là nhằm đối chiếu chính xác giữa quy định pháp lý trên văn bản với thực tiễn giải quyết hồ sơ tại cơ quan điều tra, đồng thời so sánh thực chứng chính sách của Việt Nam với các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Ấn Độ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam tăng trưởng vượt bậc nhưng đi kèm rủi ro phụ thuộc lớn ở các nhóm ngành nguyên phụ liệu cơ bản. Giá trị nhập khẩu mặt hàng vải tăng gấp 2 lần từ 4.212,3 triệu USD năm 2009 lên 8.400,0 triệu USD năm 2013; nhóm hóa chất tăng 69,2% từ 1.797,5 triệu USD năm 2008 lên 3.042,1 triệu USD năm 2013; lượng thép nhập khẩu chạm mốc 9,5 triệu tấn năm 2013, tạo sức ép ghìm giá và thu hẹp thị phần nghiêm trọng đối với các nhà máy sản xuất nội địa.

Thứ hai, tỷ lệ khởi xướng và xử lý các vụ việc chống bán phá giá tại Việt Nam trong suốt giai đoạn 2004 - 2013 ở mức cực kỳ thấp, chỉ đạt 01 vụ việc duy nhất. Đó là vụ điều tra thép không gỉ cán nguội nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Đài Loan được khởi xướng năm 2013 và áp thuế chính thức vào tháng 10 năm 2014 với thời hạn áp dụng 5 năm (2014 - 2019).

Thứ ba, hầu hết các nỗ lực yêu cầu phòng vệ thương mại trước năm 2013 đều thất bại do không đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật pháp lý khắt khe. Điển hình như vụ ống gang đúc bị bác do nguyên đơn vi phạm tư cách nhà sản xuất nội địa khi tự nhập khẩu khối lượng lớn từ Thái Lan; vụ dầu cọ thô Malaysia năm 2012 bị từ chối do ngành sản xuất mới thành lập được 1 năm nên thiếu chuỗi số liệu thiệt hại 3 năm liên tiếp; vụ mỳ chính năm 2014 của Vedan và Miwon không chứng minh được mối quan hệ nhân quả vì thiệt hại chủ yếu bắt nguồn từ hàng hóa buôn lậu qua đường tiểu ngạch; và vụ thép cán nguội full-hard bị hủy bỏ do nhà sản xuất chiếm trên 70% thị phần không đồng thuận tham gia vụ kiện.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh khoảng cách rất lớn giữa khung pháp lý và năng lực thực thi của Việt Nam so với thông lệ quốc tế. Trong khi Hoa Kỳ áp dụng triệt để phương pháp tính toán biên độ phá giá theo mục tiêu (Targeted Dumping) và EU vận dụng linh hoạt quy tắc thuế thấp hơn (Lesser Duty Rule) kết hợp đánh giá lợi ích cộng đồng, cơ chế thực thi của Việt Nam còn phân tán giữa Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Xử lý vụ việc chống bán phá giá thuộc Bộ Công Thương.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự suy giảm sản lượng và lợi nhuận của doanh nghiệp trong nước có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột kết hợp đường xu hướng thể hiện tương quan giữa tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu và sự suy giảm thị phần nội địa. Bảng ma trận đối chiếu tiêu chí pháp lý cũng làm rõ nguyên nhân các hồ sơ bị loại bỏ. Điểm mấu chốt là các doanh nghiệp Việt Nam chưa thiết lập được hệ thống kế toán chi phí theo chuẩn quốc tế để chứng minh biên độ phá giá và mối quan hệ nhân quả, dẫn đến việc để mất thị trường ngay trên sân nhà.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp luật phòng vệ thương mại. Bộ Công Thương cần chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp trình Quốc hội xây dựng Luật Quản lý Ngoại thương (thay thế Pháp lệnh Chống bán phá giá năm 2004), nội luật hóa đầy đủ các hướng dẫn của Hiệp định ADA và cơ chế rà soát hoàng hôn (Sunset Review) trong lộ trình 2015 - 2017 nhằm chuẩn hóa 100% quy trình tố tụng phòng vệ.

Thứ hai, kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực Cơ quan điều tra phòng vệ thương mại. Bộ Công Thương cần chuyển đổi mô hình Cục Quản lý Cạnh tranh thành Cục Phòng vệ thương mại chuyên trách trong giai đoạn 2015 - 2018, tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật điều tra thực địa, phương pháp kế toán chi phí và kỹ năng tính toán biên độ phá giá cho ít nhất 50 điều tra viên nòng cốt.

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cảnh báo sớm hàng nhập khẩu. Cục Quản lý Cạnh tranh cần phối hợp cùng Tổng cục Hải quan triển khai phần mềm giám sát tự động dòng hàng nhập khẩu đối với các nhóm hàng có kim ngạch trên 500 triệu USD/năm từ năm 2015, đưa ra cảnh báo kịp thời khi xuất hiện biến động tăng lượng nhập khẩu trên 15% hoặc giảm giá bất thường trên 10% trong chu kỳ 6 tháng.

Thứ tư, nâng cao tính chủ động và năng lực liên kết của các Hiệp hội ngành hàng cùng cộng đồng doanh nghiệp. Các hiệp hội chủ lực như Hiệp hội Thép, Hiệp hội Phân bón và Hiệp hội Dệt may cần lập quỹ hỗ trợ pháp lý phòng vệ thương mại trong giai đoạn 2015 - 2020, hướng dẫn ít nhất 70% doanh nghiệp hội viên chuẩn hóa sổ sách kế toán và lưu trữ dữ liệu sản xuất kinh doanh tối thiểu 3 - 5 năm liên tục để sẵn sàng khởi xướng hồ sơ điều tra khi bị cạnh tranh không lành mạnh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan điều tra phòng vệ thương mại thuộc Bộ Công Thương. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn và bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc phục vụ công tác soạn thảo chính sách, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện quy trình điều tra chống bán phá giá tại Việt Nam.

Thứ hai, Ban lãnh đạo các Hiệp hội ngành nghề và Doanh nghiệp sản xuất trong nước. Tài liệu là cẩm nang thực tiễn giúp doanh nghiệp nhận diện dấu hiệu bán phá giá, nắm vững các tiêu chuẩn kỹ thuật về tư cách nguyên đơn và phương pháp tập hợp hồ sơ chứng minh thiệt hại để bảo vệ thị phần hợp pháp.

Thứ ba, Các công ty luật, văn phòng luật sư và chuyên gia tư vấn thương mại quốc tế. Nghiên cứu mang lại hệ thống phân tích tình huống thực tế, làm rõ các điểm nghẽn pháp lý trong 5 vụ việc điển hình tại Việt Nam nhằm hỗ trợ xây dựng chiến lược tranh tụng hiệu quả cho thân chủ.

Thứ tư, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học khối ngành Kinh tế, Luật Kinh tế, Kinh doanh Quốc tế và Quản trị Kinh doanh. Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về lý thuyết phòng vệ thương mại, cung cấp chuỗi số liệu toàn diện về bức tranh xuất nhập khẩu Việt Nam giai đoạn hậu gia nhập WTO.

Câu hỏi thường gặp

Bán phá giá hàng hóa nhập khẩu được xác định dựa trên những yếu tố cốt lõi nào? Theo quy định của WTO và luật pháp Việt Nam, một mặt hàng bị coi là bán phá giá khi giá xuất khẩu sang Việt Nam thấp hơn giá bán của sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường. Cơ quan điều tra sẽ so sánh giá xuất xưởng bình quân gia quyền hoặc so sánh chi phí sản xuất cộng thêm chi phí quản lý, bán hàng và mức lợi nhuận hợp lý.

Tại sao nhiều hồ sơ yêu cầu áp thuế chống bán phá giá tại Việt Nam trước năm 2013 không được thụ lý? Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp chưa đáp ứng điều kiện pháp lý về tư cách nguyên đơn (phải đại diện tối thiểu 25% sản lượng nội địa), thiếu chuỗi dữ liệu chứng minh thiệt hại vật chất liên tục 3 năm (như vụ dầu cọ thô), hoặc không chứng minh được mối quan hệ nhân quả khách quan khi nguyên nhân sụt giảm thị phần đến từ buôn lậu tiểu ngạch (như vụ mỳ chính).

Phương pháp quy về không (Zeroing) của Hoa Kỳ là gì và tại sao bị phản đối? Phương pháp Zeroing là kỹ thuật tính toán trong đó các giao dịch xuất khẩu có giá cao hơn giá nội địa (biên độ âm) được cơ quan điều tra Hoa Kỳ quy về giá trị bằng không (0). Kỹ thuật này làm biên độ phá giá tổng thể bị đội lên rất cao, dẫn tới việc 17 trên 18 phán quyết giải quyết tranh chấp của WTO kết luận Hoa Kỳ vi phạm hiệp định thương mại.

Vụ việc áp thuế chống bán phá giá đối với thép không gỉ cán nguội năm 2014 có ý nghĩa như thế nào? Đây là vụ việc phòng vệ thương mại đầu tiên mà Việt Nam điều tra và áp thuế chính thức (kéo dài từ 05/10/2014 đến 05/10/2019). Kết quả này khẳng định năng lực thực thi công cụ phòng vệ thương mại của Việt Nam, tạo tiền lệ quan trọng giúp các ngành sản xuất khác tự tin sử dụng công cụ pháp lý quốc tế để bảo vệ sản xuất nội địa.

Doanh nghiệp sản xuất trong nước cần chuẩn bị những gì để khởi kiện chống bán phá giá thành công? Doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ thông qua hiệp hội để bảo đảm tỷ lệ đại diện trên 50% ý kiến ủng hộ của ngành sản xuất trong nước. Đồng thời, doanh nghiệp phải lưu trữ hệ thống kế toán chi phí chuẩn hóa tối thiểu 3 năm, theo dõi sát sao biến động giá nhập khẩu và thu thập chứng cứ rõ ràng về thiệt hại vật chất như suy giảm công suất, doanh thu và lao động.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc bức tranh gia tăng kim ngạch nhập khẩu vượt 132 tỷ USD sau khi Việt Nam gia nhập WTO, khẳng định tính cấp thiết của việc sử dụng công cụ chống bán phá giá.
  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận theo quy định của WTO ADA và phân tích bài học thực tiễn giá trị từ Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Ấn Độ.
  • Đánh giá thẳng thắn 10 năm thực thi chính sách tại Việt Nam với 01 vụ áp thuế thép không gỉ thành công cùng 4 bài học rút ra từ các hồ sơ bị bác bỏ do lỗi kỹ thuật pháp lý.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ từ sửa đổi luật, nâng cao năng lực điều tra viên, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đến kiện toàn liên kết hiệp hội ngành hàng hướng tới năm 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp Việt Nam chuyển dịch từ thế bị động đối phó sang chủ động kiến tạo sân chơi cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ vững chắc nền sản xuất quốc gia trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng.