Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP TỈNH LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân tộc thiểu số 1 “Dân tộc thiểu số” : Theo định nghĩa Từ điển bách khoa Việt Nam, “dân tộc thiểu số’’ là “dân tộc có số dân ít (có thể từ hàng trăm, hàng nghìn cho đến hàng triệu) cư trú trong một quốc gia thống nhất có nhiều dân tộc, trong đó có một dân tộc có số dân đông nhất’’. Đây là một khái niệm được dùng phổ biến trong các văn kiện chính thức của Đảng và nhà nước ở Việt Nam.
Còn theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2001 về công tác dân tộc, Điều 4, khoản 2, khoản 3, thì từ “dân tộc thiểu số có thể hiểu là “nh ng dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãn h thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam’’, trong đó “Dân tộc đa số’’ là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước theo điều tra dân số quốc gia Như vậy, theo số liệu Tổng điều tra dân số năm 2019, hiện nay ở Việt Nam, dân tộc Kinh là dân tộc đa số; 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số. Khái niệm về cán bộ, công chức và cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số * Khái niệm cán bộ, công chức Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008 và Luật viên chức ban hành năm 2010, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định được rõ ràng các khái niệm: cán bộ; công chức; viên chức. Trong hệ thống pháp luật của nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ như Luật tổ chức Chính phủ; Luật tổ chức Hội đồng nhân 1 Trong trường hợp nghiên cứu này, thuật ngữ “dân tộc”, “dân tộc thiểu số’’, được hiểu là “tộc người thiểu số”. Trên thực tế, khái niệm này thường được hiểu khác nhau với những ngụ ý khác nhau tuy vào điều kiện lịch sử, chính trị và xã hội cụ thể ở mỗi nước, cũng tùy thuộc vào thói quen và ngữ cảnh.
9 dân, Uỷ ban nhân dân; Luật bình đẳng giới; Luật Luật sư; Luật chứng khoán; Luật Bảo hiểm xã hội; Luật trợ giúp pháp lý; Luật công nghệ thông tin; Luật đấu thầu; Luật công an nhân dân; Luật nhà ở; Luật phòng chống tham nhũng; Luật giáo dục;.) đều có những điều, khoản quy định sử dụng nhiều lần các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức''. Với điểm đặc thù này, việc nghiên cứu để xác định rõ cán bộ; công chức; viên chức một cách triệt để rất khó và phức tạp. Đến năm 1998, Vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức, ai là viên chức cũng chưa xác định được. Những người làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang thì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân.
Vì không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức”, “viên chức” nên đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến quy định về cơ chế quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của công chức và viên chức. Do đó, nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và đầu tiên mà Luật cán bộ, công chức đã giải quyết thành công, đó là làm rõ được những tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai là công chức. Từ đó, mới có cơ sở và căn cứ để đưa ra những nội dung đổi mới và cải cách thể hiện trong Luật cán bộ, công chức, tạo cơ sở để giải quyết những vấn đề mà thực tiễn quản lý đang đặt ra. Đồng thời, đây cũng là căn cứ để xác định rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và tiếp theo Luật viên chức được ban hành năm 2010 để điều chỉnh đối với đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Luật viên chức năm 2010 thì cán bộ, công chức và viên chức có những tiêu chí chung là: 10 công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ Ngân sách nhà nước (riêng trường hợp công chức và viên chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ, nhiệm vụ thường xuyên; làm việc trong công sở, các cơ quan Đảng, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội; cán bộ và công chức được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ, công chức cấp xã). Cán bộ, công chức và viên chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với cơ chế hình thành hoặc chế độ làm việc. Cán bộ: Khoản 1 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ.
* Cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số là công dân Việt Nam người dân tộc thiểu số được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ hoặc vào ngạch hoặc theo vị trí việc làm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ hoặc chuyên môn nghiệp vụ nhất định làm việc trong cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập tại vùng dân tộc thiểu số trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ quỹ lương. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi vấn đề dân tộc, công tác dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và to lớn trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Công tác dân tộc của Đảng luôn thể hiện sự nhất quán và xuyên 11 suốt trong các thời kỳ lịch sử với nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Vì thế, để thực hiện thành công các chủ trương, chính sách về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, tạo thế và lực cho cách mạng, vai trò của cán bộ nói chung, của cán bộ, công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số nói riêng được xem là một khâu then chốt, trọng yếu, có tính quyết định.
Theo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước hiện có 5.468 xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi, chiếm 49% tổng số xã toàn quốc. Khoảng 87% xã dân tộc thiểu số phân bố ở khu vực nông thôn. Tính đến ngày 1-4-2019, dân số của 53 dân tộc thiểu số khoảng 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tổng dân số cả nước. Thực hiện chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, qua các thời kỳ cách mạng, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngày càng tăng về số lượng, mạnh về chất lượng, đủ sức gánh vác, hoàn thành các nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.
Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ngày càng khẳng định rõ vai trò là những chiến sĩ xung kích, hạt nhân tiêu biểu trong việc vận động quần chúng đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, lập nên rất nhiều chiến công, thành tích trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, rất nhiều cán bộ, đảng viên, đồng bào người dân tộc thiểu số đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước, nhiều cá nh ân tiêu biểu luôn đi đầu trong các lĩnh vực xây dựng Đảng, chính quyền, tham gia lãnh đạo và tổ chức, triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn và phát triển văn hóa, giao lưu quốc tế, ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, cùng với sự phát triển chung của cả nước, diện mạo vùng dân tộc thiểu số và 12 miền núi nước ta đã có những thay đổi sâu sắc, toàn diện trên tất cả các phương diện. Theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2019, khoảng 98,6% số thôn thuộc các xã vùng dân tộc thiểu số được tiếp cận điện, chủ yếu sử dụng điện lưới quốc gia; tỷ lệ cứng hóa đường giao thông đạt 95,2%; các xã có trạm y tế chiếm 99,5%.
Cả nước đã có gần 21.600 trường học; 26.500 điểm trường vùng dân tộc thiểu số với 91% trường học kiên cố; tăng hơn 3.800 trường và giảm 2.300 điểm trường so với năm 2015. Tuổi thọ trung bình của 53 dân tộc thiểu số là 70,7 tuổi. Mức độ tiếp cận với giáo dục phổ thông của người dân tộc thiểu số đã được cải thiện rõ rệt so với năm 2015, đặc biệt ở cấp THPT với 50,7% người trong độ tuổi đi học. Tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia lực lượng lao động chiếm khoảng 83%.
Gần như toàn bộ các hộ dân tộc thiểu số đều đã có nhà ở, trong đó nhà ở kiên cố hoặc bán kiên cố chiếm 79,2%.