Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hối phiếu và chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động chiết khấu hối phiếu của ngân hàng thương mại tại Việt Nam. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỐI PHIẾU VÀ CHIẾT KHẤU HỐI PHIẾU CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Sự ra đời và phát triển của hối phiếu và pháp luật về hối phiếu 1.1 Sự ra đời và phát triển của hối phiếu Hối phiếu (bao gồm hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ).
Trước đây Hối phiếu được gọi là thương phiếu. Hối phiếu ra đời khi nền kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, việc giao lưu buôn bán cả nội địa và quốc tế của các thương nhân diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Nhưng không phải lúc nào người mua cũng có tiền mặt để thanh toán cho người bán vì vậy mà họ phải tìm ra một giải pháp phù hợp đó là mua bán chịu, tức là thỏa thuận người bán giao hàng trước, còn người mua sẽ thanh toán sau khi nhận hàng với một thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên, từ đó tín dụng thương mại được hình thành và tín dụng thương mại được thể hiện qua việc tạo lập và thanh toán bằng hối phiếu. Hối phiếu chính là một phương tiện thanh toán thay cho tiền mặt mà các thương nhân đã sáng tạo ra." Hối phiếu ra đời từ thế kỷ XII khi nền kinh tế hàng hóa đã phát triển phá vỡ kiểu sản xuất tự cung tự cấp đã tồn tại hàng ngàn năm" [30].
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại nói chung và hối phiếu nói riêng có vai trò rất to lớn. Một mặt, nó được sử dụng như phương tiện thanh toán để thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong quan hệ mua bán chịu, trả chậm. Mặt khác, thông qua việc phát hành và lưu thông hối phiếu, hối phiếu được sử dụng như một công cụ tín dụng giữa người ký phát và người bị ký phát, giữa người ký phát và người thụ hưởng, giữa người thụ hưởng và ngân hàng chiết khấu. Đồng thời, việc thể hiện quan hệ tín dụng thương mại bằng hối phiếu tạo ra cơ sở quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com "Trong lịch sử, hối phiếu được biết đến từ rất xa xưa, như là bản ghi nhận khoản nợ khi các thương gia mua bán hàng hóa chịu. Các thương gia ở thành phố cảng Italia là những người đầu tiên phát hành, sử dụng thương phiếu ở thế kỷ XII. Các chứng chỉ này được ghi nhận là thương phiếu đầu tiên được phát hành và sử dụng" [30]. Việc sử dụng hối phiếu trở thành phổ biến ở thế kỷ XVI, khi hối phiếu đã được chuyển nhượng.
Thông qua hình thức chuyển nhượng, hối phiếu đã được sử dụng như một phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại, mua bán hàng hóa. Ngày nay, hối phiếu được sử dụng rộng rãi như là phương tiện thanh toán trong quan hệ thương mại quốc tế và trong quan hệ thương mại nội địa của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra hối phiếu còn được sử dụng rộng rãi trong các giao dịch vay nợ quốc tế như là văn bản cam kết nhận nợ và cam kết thanh toán đối với các khoản vay [30]. Cùng với sự phát triển kinh tế, thương mại và công nghệ, hối phiếu ngày càng hoàn thiện hơn về hình thức và nội dung, dần thoát ly khỏi cơ sở kinh tế ban đầu của nó là quan hệ thương mại, nghĩa là, sau khi được ký phát hối phiếu trở thành một loại giấy tờ có giá có hiệu lực độc lập hoàn toàn với giao dịch kinh tế “sản sinh” ra nó.
Vì là chứng từ có giá lại chuyển nhượng được, nên hối phiếu không chỉ dừng lại ở quan hệ tín dụng thương mại mà còn được sử dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, chiết khấu, cầm cố, thế chấp và là phương tiện thanh toán trong các giao dịch khác. Hơn nữa, ngày nay hối phiếu còn trở thành một loại hàng hóa để mua bán trên thị trường tiền tệ, đặc biệt ở một số nước, việc mua bán hối phiếu đã phát triển mạnh thành một thị trường riêng biệt.2 Sự ra đời và phát triển của pháp luật về Hối phiếu Để Hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán và nâng cao hiệu quả sử dụng của hối phiếu, ngoài việc phải chứng chỉ hóa hối phiếu thì pháp luật về 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hối phiếu và các hoạt động thương mại liên quan đến hối phiếu cần phải được ban hành đầy đủ và hoàn thiện hơn. Thực tế thì hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ban hành luật về hối phiếu. Tuy nhiên, ngày nay thương mại quốc tế đã phát triển rất nhiều, từ đó làm phát sinh nhu cầu sử dụng hối phiếu làm phương tiện thanh toán quốc tế gia tăng, do đó nếu không có sự quy định thống nhất pháp luật về hối phiếu trong khi Người ký phát và Người bị ký phát lại ở hai quốc gia khác nhau thì việc sử dụng và thanh toán hối phiếu sẽ rất khó khăn.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một Luật quốc tế thống nhất về hối phiếu. Hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Den Haag năm 1912 đã ra kiến nghị về việc cần ký kết một hiệp định giữa các nước, trong đó, các nước thành viên cam kết sẽ soạn thảo và thi hành pháp lệnh hối phiếu ở nước mình. Tại thời điểm đó, Mỹ và Khối liên hiệp Anh đã tự tách khỏi cam kết thống nhất này. Tuy nhiên do xảy ra thế chiến lần thứ nhất nên các nước dự hội nghị không thể đi tới việc ký hiệp định về Luật hối phiếu.
Tới năm 1930, hội nghị về Luật hối phiếu được tổ chức tại Geneve, các nước thành viên đã phê chuẩn Công ước về Luật hối phiếu, gọi là Công ước Geneve 1930 về Luật hối phiếu thống nhất (Uniform Law for Bills of Exchange – Geneve Convention 1930, ULB 1930). Ngày nay, Luật hối phiếu thống nhất ULB 1930 có hiệu lực tại tất cả các nước (ngoại trừ Anh). Nhiều nước khác mặc dù không tham gia công ước Geneve, nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930, chính điều đó càng làm cho tính hiệu lực quốc tế của ULB ngày càng được thừa nhận trong cuộc sống. Ở Việt Nam, thời kỳ phong kiến, nền kinh tế Việt Nam "là nền kinh tế tự cung, tự cấp, bế quan tỏa cảng" [30], các quy định pháp luật về kinh doanh thương mại còn chưa được chú trọng ban hành, do đó hối phiếu chưa ra đời ở Việt Nam trong thời kỳ này.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đến thời kỳ pháp thuộc, do thương mại phát triển cho nên luật về thương mại mới được ban hành. Năm 1864, Luật thương mại của Pháp được áp dụng ở Nam kỳ và đến năm 1888 thì được áp dụng ở Bắc kỳ. Ở Trung bộ, triều đình Nguyễn ban hành Bộ Luật thương mại Việt Nam Trung phần năm 1942. Trong thời kỳ này, sau khi phê chuẩn công ước Geneva vào cuối năm 1935, tháng 12 năm 1937 Toàn quyền Pháp ở Đông Dương đã ban hành Nghị định chính thức áp dụng Luật thương phiếu của Pháp trên toàn lãnh thổ Đông Dương.
Từ 1945 đến 1954, Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, đất nước lúc này chia thành hai khu vực, khu vực do thực dân Pháp tạm thời chiếm đóng và Khu vực kháng chiến. Trong khu vực do thực dân Pháp chiếm đóng thì thương phiếu nói chung và hối phiếu nói riêng vẫn được sử dụng trong cả nội thương và ngoại thương. Còn trong khu vực kháng chiến thì không sử dụng thương phiếu bởi vì lúc đó kinh tế chủ yếu để phục cho kháng chiến, không còn cơ sở cho thương phiếu hình thành và phát triển. Từ năm 1954 đến 1972, khi đất nước bị chia cắt thành hai miền, Miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam chịu ảnh hưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa do sự chiếm đóng của đế quốc Mỹ.
Lúc này, miền Nam Việt Nam sử dụng thương phiếu theo Luật thương mại của Pháp. Năm 1972, Chính phủ Miền Nam Việt Nam đã ban hành Luật thương mại, trong đó đã dành riêng một chương quy định về Hối phiếu, Kỳ phiếu và Chi phiếu (Séc). Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Luật thương mại Sài Gòn 1972 không còn được sử dụng nữa. Từ năm 1954 đến 1999, thương phiếu chỉ được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại.
Các doanh nghiệp Việt Nam khi phát hành Hối phiếu đòi nợ đều áp dụng Luật thống nhất về hối phiếu (ULB 1930). Ngày 24/12/1999, Pháp lệnh thương phiếu của Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước phát triển mới của lưu thông thương phiếu tại Việt Nam. Tuy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, sau khi được ban hành, pháp luật Thương phiếu đã bộc lộ nhiều hạn chế, khiến cho pháp lệnh này khó được áp dụng trong thực tiễn. Trước yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, một yêu cầu đặt ra là phải sửa đổi các quy định trong pháp lệnh thương phiếu 1999 để nó phù hợp hơn với các hoạt động thương mại trên thực tế.
Vì vậy Luật các công cụ chuyển nhượng đã được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 đã đánh dấu một bước phát triển mới đối với pháp luật về hối phiếu của Việt Nam. Ngoài ra, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 hiện cũng là cơ sở pháp lý quan trọng, cho phép các tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động tín dụng dưới hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, trong đó có Hối phiếu. Bên cạnh đó, để cụ thể hóa hoạt động chiết khấu Hối phiếu, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 63/2006/QĐ – NHNN quy định về việc chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Quyết định này đã được thay thế bởi Thông tư số 04/2013/TT-NHNN ngày 01/3/2013 Quy định về hoạt động chiết khấu công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Có thể nói, các văn bản trên tạo hành lang pháp lý quan trọng để phát triển thị trường Hối phiếu nói chung và hoạt động chiết khấu của ngân hàng thương mại nói riêng.