CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm Theo Võ Thanh Thu và Ngô Thị Ngọc Huyền (2008) thì đầu tư quốc tế là hiện tượng các dòng vốn di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác, thường là nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận (từ nơi có lợi nhuận thấp sang nơi có lợi nhuận cao). Đầu tư quốc tế tồn tại dưới nhiều hình thức, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một trong những nguồn vốn quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển.
Hiện nay có khá nhiều khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài do các tổ chức quốc tế đưa ra. Cụ thể là: Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (1996) quy định: đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo luật này. Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1993): FDI được định nghĩa là định nghĩa là “loại hình đầu tư quốc tế trong đó một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế thu được lợi ích lâu dài từ một chủ thể kinh tế thuộc một nền kinh tế khác. Đầu tư trực tiếp bao hàm mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của nhà đầu tư đối với công tác quản trị hoạt động tại doanh nghiệp nhận khoản vốn đầu tư.
Theo tổ chức thương mại thế giới –WTO (1996): đầu tư nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Lợi ích lâu dài bao hàm sự tồn tại của một mối quan hệ trong dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp tiếp nhận vốn, và một mức độ ảnh hưởng nhất định của mối quan hệ này lên công tác quản trị hoạt động của doanh nghiệp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm các giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể kinh tế, và các giao dịch kế tiếp sau liên quan đến vốn các chủ thể này với các chi nhánh, các đơn vị liên kết.
Tóm lại, đầu tư nước ngoài là sự di chuyển các nguồn lực từ quốc gia này qua quốc gia khác để tiến hành những hoạt động đầu tư nhằm thu được lợi ích. Hay đầu tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư đòi hỏi một mối quan tâm lâu dài và phản ánh lợi ích dài hạn và quyền kiểm soát của một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (được gọi là chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc doanh nghiệp mẹ) trong một doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác nền kinh tế của chủ đầu tư nước ngoài (được gọi là doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp chi nhánh hoặc chi nhánh nước ngoài). FDI chỉ ra rằng chủ đầu tư phải có một mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với việc quản lý doanh nghiệp cư trú ở một nền kinh tế khác. Phân loại FDI được phân loại tùy theo từng tiêu chí.
Trên thực tế, người ta thường căn cứ vào mục đích, hình thức góp vốn và hình thức thâm nhập để phân loại FDI. Căn cứ vào mục đích của FDI, UNCTAD chia FDI thành bốn hình thức chủ yếu. - FDI tìm kiếm nguồn tài nguyên: Các cơ sở đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành trong dây chuyền kinh doanh của công ty mẹ, có trách nhiệm khai thác nguồn nguyên liệu tại chỗ, cung cấp cho công ty mẹ để tiếp tục hoàn chỉnh sản phẩm. Hình thức này phù hợp với các dự án khai thác dầu khí, tài nguyên thiên nhiên hoặc khai thác và sơ chế các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp ở nước chủ nhà.
Đây là hình thức đầu tư nguyên thuỷ của các công ty xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển. Hình thức này có tác dụng thúc đẩy thương mại thông qua nhập khẩu tư liệu sản xuất từ nước đầu tư đến nước chủ nhà và xuất khẩu thành phẩm/ bán thành phẩm từ nước chủ nhà ra nước ngoài. - FDI tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang các nước khác. Do sản xuất sản phẩm cùng loại nên chủ đầu tư không cần đầu tư thiết bị, công nghệ mới lại có thể tận dụng được nguồn lao động rẻ của nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí vận chuyển, qua đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận.
Hình thức này còn được gọi là FDI theo chiều ngang. FDI tìm kiếm thị trường là động lực chính thức đẩy hoạt động đầu tư vào lĩnh vực sản xuất của các nước đang phát triển trong các thập kỷ 1960-1970. Đây là thời kỳ thịnh vượng của công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu ở các nền kinh tế mới công nghiệp hoá. Nguyên nhân của hình thức đầu tư này là do sự xuất hiện của các rào cản thương mại và chi phí vận chuyển cao.
- FDI tìm kiếm hiệu quả : Hình thức này còn có tên gọi khác là FDI định hướng chi phí, là hình thức đầu tư ở nước ngoài nhằm giảm chi phí sản xuất, tối ưu hoá quá trình sản xuất thông qua việc tận dụng lao động và tài nguyên rẻ của nước chủ nhà. Hình thức này thích hợp với những lĩnh vực đầu tư sử dụng nhiều lao động, sử dụng thiết bị cũ, lạc hậu, mức độ ô nhiễm cao. Vì thế, hình thức này được coi là FDI theo chiều dọc, chủ yếu áp dụng cho các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu. - FDI tìm kiếm tài sản chiến lược: Đây là hình thức đầu tư xuất hiện ở giai đoạn phát triển cao của toàn cầu hoá sản xuất, khi các công ty đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm khả năng hợp tác nghiên cứu và triển khai (R&D).
Căn cứ vào hình thức góp vốn, FDI được chia thành các hình thức sau: - Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-operation) là văn bản được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên (các bên tham gia) trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên tham gia để tiến hành đầu tư kinh doanh ở nước chủ nhà. Đặc điểm của hình thức đầu tư này là không thành lập một pháp nhân mới và vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản hợp đồng hợp tác kinh doanh. - Doanh nghiệp liên doanh (Joint Venture Enterprise) là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở liên kết của các doanh nghiệp trong và ngoài nước theo luật pháp của nước chủ nhà; các bên tham gia liên doanh sẽ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp của mình vào liên doanh. Hình thức góp vốn này cho ra đời một pháp nhân mới và được thành lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn.
Các bên tham gia liên doanh phải có trách nhiệm góp vốn liên doanh, đồng thời phân chia lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Enterprise with one hundred percent foreign owned capital) là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và chịu sự chi phối của luật pháp nước chủ nhà. Trong ba hình thức trên, hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, không đòi hỏi vốn lớn, các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời gian hợp đồng thường ngắn.
Các nhà đầu tư nước ngoài ít tiềm lực thường thích loại hình đầu tư này. Trong khi đó, nước chủ nhà thường ưa chuộng loại hình doanh nghiệp liên doanh vì có điều kiện học tập kinh nghiệm quản lý, đào tạo lao động. Tuy nhiên, áp dụng loại hình đầu tư này đòi hỏi phía nhận đầu tư phải có khả năng góp vốn, có đủ trình độ tham gia quản lý doanh nghiệp với người nước ngoài thì mới đạt hiệu quả mong muốn. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ban đầu không được chủ đầu tư ưa thích, vì họ muốn chia sẻ rủi ro với nước chủ nhà, tuy nhiên thái độ này đã thay đổi do họ nhận thức được lợi ích của việc tự quản lý và hưởng lợi nhuận do kết quả đầu tư tạo ra.
Căn cứ vào hình thức thâm nhập, FDI được phân chia thành hai hình thức chủ yếu là đầu tư mới (Greenfield Investment-GI), mua lại và sáp nhập (Cross-border Merger and Acquisition-M&A). - Đầu tư mới: là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại. - Mua lại và sáp nhập qua biên giới: là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động 1. Vai trò của nguồn vốn FDI đối với nước đầu tư và nước nhận đầu tư Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện chủ yếu là do những nguyên nhân về lợi thế so sánh.
Theo mô hình lý thuyết của Macdougall-Kemp, trên thế giới bao giờ cũng tồn tại luồng FDI do mức năng suất cận biên của vốn (marginal productivity of capital –- MPK) không giống nhau. Dựa trên lý thuyết này, Kojima đã nghiên cứu và đưa ra kết luận: FDI xuất hiện là do có sự khác nhau về tỷ suất lợi nhuận giữa các nước và sự chênh lệch này bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao động quốc tế. Ông chứng minh được rằng những nước có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài. Những lý thuyết trên cho thấy FDI mang lại lợi ích của cả bên đi đầu tư và bên nhận đầu tư.
Vì thế, có hiện tượng không chỉ các nước giàu đầu tư sang các nước nghèo mà bản thân các nước giàu cũng đầu tư sang nhau với tỷ trọng khá lớn, chiếm tới 3/4 vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước này. Các nước chậm phát triển không chỉ tiếp nhận đầu tư của các nước phát triển mà cũng đầu tư sang các nước khác, mặc dù vẫn đang rất cần vốn để phát triển kinh tế-xã hội trong nước.