CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHÍNH SÁCH THU HUT NGUÒN NHÂN LUC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số khái niệm cơ bản của Đề tài luận văn 1. Khái niệm “chính sách” Theo tác giả Vũ Cao Đàm: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản ly đưa ra, trong đó tạo sự u đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động cua họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu uu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thong xã hội” [15, 11]. Hệ thống xã hội ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thé là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường, v. “Chính sách là chương trình hành động, thể hiện những tác động của chủ thé quản lý nhằm giải quyết một van dé nào đó thuộc phạm vi trách nhiệm và thẩm quyên cua minh [11, 3]. Nhu vậy, ở những cấp độ, t6 chức khác nhau thì sẽ có những chính sách khác nhau. Ở các tổ chức tư nhân, phi nhà nước có thé có những chính sách riêng nhằm thực hiện những nhiệm vụ trong phạm vi thâm quyền của mình.
Các chính sách này chỉ có hiệu lực trong phạm vi cua tô chức đó, vì thế cho nên nó mang tính chất riêng biệt và chúng ta gọi đó là các “chính sách tư” để nhằm phân biệt với “chính sách công” do nhà nước ban hành và thực hiện. Nhu vậy, phân tích khái niệm “chính sách” ta thấy: Chính sách là do một chủ thê quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra; chính sách được ban hành căn cứ vào đường lỗi chính trị chung và tình hình thực tế; chính sách được ban hành luôn hướng đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích ro ràng. Khái niệm “nguôn nhân lực” Mỗi quốc gia dé phát triển luôn phải có các nguồn lực cho sự phát triển. Trong bat kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, trình độ và tính chất phát triển ra sao thì các nguồn lực cho sự phát triển vẫn là tư liệu sản xuất (đất đai, tài nguyên, máy móc thiết bị, công nghệ, tài chính.) và sức lao động (NNL và rộng ra là nguồn vốn con người, vốn xã hội, vốn thé ché.
Trong đó, sức lao động - nguồn nhân lực - con người là yếu tổ động quan trọng nhất, nguồn gốc của mọi của cải vật chất và sức sáng tạo ra các nền văn minh. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB), NNL được coi là một nguồn vốn (vốn người) để phân biệt với các nguồn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. NNL là toàn bộ vốn con người với thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà cá nhân họ sở hữu. Cơ quan Phát triển của Liên hợp quốc - UNDP cũng cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [27, 179].
Tác giả Hoàng Chí Bảo cùng các tác giả khác cũng đồng quan điểm khi quan niệm: NNL là nguôồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể lực (thê trạng sức khỏe), trí lực (trình độ chuyên môn, trí tuệ, tính sáng tạo, kỹ năng làm việc.) và tâm lực (tâm lí, phẩm chất đạo đức, mong muốn, nhu cầu.) cùng tính năng động xã hội của con người. Tuy nhiên, một số quan niệm lại quan tâm đến kết cấu của NNL. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), NNL là toàn bộ số người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động, được hiểu: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển; theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT - XH, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia quá trình lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân có thể tham gia quá trình lao động'. Các nhà quản lý thì cho rằng NNL ! Tạp chí Cộng sản (2012), “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quôc tê”, Báo cáo đê dân, Tông thuật và kêt luận Hội thảo khoa học, tr.
16 bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ, nó được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cau lứa tuổi, giới tính và mức độ tham gia làm việc của các bộ phận dân cư. Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về NNL nhưng có một điểm chung đó là NNL của một tô chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Bên cạnh đó, NNL là yếu tố quan trọng hang đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động va phát triển của lực lượng sản xuất, NNL quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội (tầm vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tô chức (tầm vi mô).
Xuất phát từ những quan niệm trên đây, luận văn xác định nội hàm NNL với một số đặc trưng cơ ban sau đây: (1) NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội bao gồm những người đang tham gia và sẽ tham gia vào quá trình lao động sản xuất; (2) Cầu trúc của NNL bao gom thé luc ( thé trang sức khỏe), trí lực (trình độ chuyên môn, trí tuệ, tính sáng tạo, kỹ năng lam việc.) và tâm lực (tâm lí, phẩm chất đạo đức, mong muon, nhu câu. ) của con người; (3) NNL đóng vai trò động lực phát triển của mỗi quốc gia. Khái niệm “nguôn nhân lực khoa học và công nghệ” Có 2 cách tiếp cận phổ biến về NNL KH&CN: Thứ nhất, NNL KH&CN được mô tả trong cuốn “Cam nang về do lường NNL KH&CN” của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) được sử dụng phô biến trong các quốc gia cũng như các tài liệu nghiên cứu, theo đó, NNL KH&CN gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp cao đăng hoặc đại học về một lĩnh vực KH&CN; - Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương. Trên cở sở này, cách hiểu về NNL KH&CN được diễn giải bao gồm những đối tượng: 1) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đăng và làm việc trong một ngành KH&CN; ii) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đăng, nhưng không 17 làm việc trong một ngành KH&CN nào; iii) Chưa tốt nghiệp cao đẳng và đại học, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương.
Cũng theo tài liệu này của OECD thì nhân lực KH&CN có thé chia thành 2 loại: - Nhân lực KH&CN cấp độ đại học (University-level Human resource for science and technology là những người hoàn thành một trong các điều kiện: (i) Có bằng cao đăng, đại học hoặc sau đại học về một lĩnh vực KH&CN; (ii) Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương. - Nhân lực KH&CN cấp độ kỹ thuật viên (Technician-level level Human resource for science and technology) là những người hoàn thành một trong các điều kiện: (i) Có chứng nhận tham gia các chương trình học mức độ thấp hơn cao đăng, đại học về một lĩnh vực KH&CN; (ii) Tuy chưa đạt được điều kiện nêu trên, nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương. Ngoài ra, OECD còn nhắn mạnh vào nhân lực nghiên cứu và triển khai (R&D Manpower/Personnel) và coi đây như một khái niệm hiểu theo nghĩa hẹp của nhân lực KH&CN. Nhân lực nghiên cứu và triển khai được xác định là “tất cả những người làm việc trực tiếp về nghiên cứu và trién khai cũng như những người cung cấp các dịch vụ trực tiếp như người quản lý, hành chính và thư ký nghiên cứu và triển khai”.
Thứ hai, theo UNESCO thì nhân lực KH&CN được xác định như “tong số những người tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN và các dịch vụ KH&CN trong một tô chức hoặc một đơn vị. Nhóm này gồm cả những nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực hỗ tro. - Các nhà khoa học và kỹ sư được đề cập đến là những người sử dụng năng lực của họ để tạo ra tri thức khoa học, các nguyên lý kỹ thuật và công nghệ, có nghĩa là những người được đào tạo về KH&CN tham gia vào công việc chuyên môn về các hoạt động KH&CN, những người quản lý cấp cao và những người hướng dẫn thực hiện các hoạt động KH&CN (trong trường hợp 1§ các hoạt động NC&TK khái niệm này đồng nghĩa với khái niệm nghiên cứu viên và trợ lý nghiên cứu viên hoạt động từ các lĩnh vực khoa học tự nhiên đến các lĩnh vực khoa học xã hội va nhân văn). - Kỹ thuật viên đề cập đến những người tham gia vào các hoạt động KH&CN, những người đã qua đào tạo nghề hoặc đảo tạo kỹ thuật trong một ngành tri thức hoặc công nghệ nhất định.
- Nhân lực hỗ trợ đề cập đến những người mà công việc của họ trực tiếp liên quan đến việc thực hiện các hoạt động KH&CN, có nghĩa là các cán bộ hành chính, thư ký, cán bộ có kỹ năng, có ít kỹ năng và chưa có kỹ năng trong các nghề khác nhau và tất cả các cán bộ hỗ trợ khác. Như vậy, ở đây có một sự khác nhau về cách tiếp cận nhân lực KH&CN giữa UNESCO và OECD. Khái niệm nhân lực KH&CN của UNESCO nhấn mạnh vào hoạt động KH&CN (nghề nghiệp) không phân biệt bang cấp, kế cả những cán bộ hỗ trợ cũng được tính vào nhân lực KH&CN (những người này lại không được tính vào nhân lực KH&CN trong định nghĩa của OECD). Ngược lại, những người có bằng cấp không tham gia vào hoạt động KH&CN thì được tính vào nhân lực KH&CN theo OECD nhưng lại không được tính vào nhân lực KH&CN theo UNESCO.
Trong khi đó, hệ thống số liệu nhân lực KH&CN của Việt Nam hiện nay mới chỉ là phương thức phan ánh “tông số nhân lực có trình độ” của một quốc gia. Hiện nay, các lực lượng tham gia hoạt động KH&CN nước ta gồm 5 thành phần chủ yếu sau đây: (1). Cán bộ nghiên cứu trong các viện, trường đại học.